blog của Thuận

Thang máy Sài Gòn (3)

Leave a comment

đọc chương 2 ở đây

Paris

Thứ Hai. Cô nhìn căn phòng lần cuối trước khi tắt đèn. Phòng không có gì ngoài bàn ghế nhựa và một chiếc bảng treo tường mà cô đã sử dụng bao lần cũng chẳng biết có bằng nhựa hay không. Trên bảng vẫn còn một bài tập chép gồm một đoạn thơ ngắn của một bài thơ dài đã hiện ra trong trí nhớ của cô lúc nãy, khi cô chạy từ bến tàu điện ngầm về đây, dưới một cơn mưa nặng hạt:

Anh vẫn tìm em qua chiều thứ Hai sạch

Qua đôi môi mời sạch

Qua Hồ Tây mây sạch

Qua nhà đôi ngồi sạch

Qua thơi thới ngày sạch

Qua đôi giày sạch

Tìm em

Cô đóng cửa phòng lại rồi theo cầu thang gỗ đi lên. Một buổi dạy tiếng Việt vừa kết thúc. Học trò là hai phụ nữ lớn tuổi đã theo học từ ngày đầu mở lớp. Cả lớp bây giờ chỉ còn lại họ. Hôm nay, cô không muốn mở sách giáo khoa, nhưng chưa biết dạy gì ngoài việc cho tập chép đoạn thơ trên. Sau khi chép xong, ba người ngồi nhìn nhau. Rồi một trong hai học trò đề nghị thử dịch sang tiếng Pháp. Cô gật đầu. Thế là nửa giờ tiếp theo, trong khi hai học trò đánh vật với hai cuốn từ điển Việt-Pháp dày như hai viên gạch, cô ngồi nhớ lại lần đầu tiên đọc bài thơ này, đã bất ngờ thế nào trước sự giản dị của thơ ca. Lúc đó, cô vừa đặt chân tới Pháp, ngày ngày ghé trung tâm tìm việc cho sinh viên nước ngoài, ngày ngày thất vọng ra về, thứ Hai nào cũng nặng trĩu nước mưa. Lúc đó, cô đã thử viết truyện ngắn, tối tối ngồi gõ máy tính, gõ mãi gõ mãi vẫn thấy văn chương là cõi mơ hồ.

Cô đứng dưới một mái hiên nhỏ trên vỉa hè, cách cửa hàng mỹ nghệ mấy số nhà. Ra khỏi lớp tiếng Việt, cô đã định chạy một mạch tới bến tàu điện ngầm, nhưng mưa càng to thì đường càng trơn. Mới hơn tám giờ tối mà trung tâm thành phố đã vắng tanh. Từ căn hộ sau lưng, vọng ra một giọng nam ồm ồm: “Maria, anh ngàn lần xin lỗi em!”. Tiếp theo là một đoạn nhạc ẻo lả, rồi một giọng phụ nữ cũng ẻo lả cất lên: “Octavio, anh không bao giờ có thể tưởng tượng em đã đau khổ thế nào, những ngày vắng anh”. Tiếp theo nữa là một đoạn nhạc ẻo lả khác, rồi có tiếng sụt sịt, hình như của cả đàn ông lẫn đàn bà… Cô ngước nhìn tòa nhà bên kia đường, cửa kính các căn hộ tầng một và tầng hai loang loáng màn hình vô tuyến, đối diện là mấy cái bóng ngồi bất động. Ngay buổi học đầu tiên, một học trò đã cảnh báo rằng tối thứ Hai thường có phim hay, và đề nghị cô đổi lớp học sang ngày khác trong tuần. Vì cô lắc đầu nên sau hai buổi, anh ta tự động biến mất. Tối hôm đấy, giở chương trình vô tuyến cả tuần ra xem, cô không thể không giật mình, ngày thường chẳng trò giải trí nào cạnh tranh nổi vô tuyến truyền hình nữa là tối thứ Hai: tối thứ Hai vô tuyến truyền hình cạnh tranh lẫn nhau, thế nên khán giả tha hồ chọn phim. Và cũng từ đấy, cô thấy có cảm tình hơn với những học trò đến lớp vào tối thứ Hai. Ít ra thì họ cũng không dễ trở thành nạn nhân của vô tuyến truyền hình. Nhưng số ấy ngày càng mai một. Đầu tháng Chín vừa rồi, cô phải nằn nì rất lâu thì bà Wang mới không hủy buổi học tối thứ Hai. Cô có cảm giác chấp nhận điều ấy có nghĩa là chính cô đã chấp nhận đầu hàng vô tuyến truyền hình.

Lớp tiếng Việt của cô mở ra cách đây hai năm, đầu tiên bà Wang chỉ muốn tận dụng cái tầng hầm bỏ không của cửa hàng mỹ nghệ, nơi cô một tuần vài ngày làm nhiệm vụ bán hàng. Giá thuê nhà nghe nói là đắt cứa cổ trong khi đồ châu Á thời điểm đó đã bắt đầu hết mốt. Bà Wang bao giờ cũng tỏ ra là người sòng phẳng, ngay lần gặp đầu tiên đã giao hẹn: “Bán hàng, dạy học, nghỉ buổi nào trừ lương buổi ấy, nghỉ nửa buổi trừ nửa buổi”. Cô vào dạy được một thời gian, thấy trên cửa kính dán áp phích quảng cáo dạy tiếng Hoa. Sau khi dọn dẹp mươi cái lọ độc bình nhái đời Khang Hy, bà Wang cũng tạo được một góc học trong chính cửa hàng mỹ nghệ. Không ngờ nhu cầu tiếng Hoa lớn gấp mấy lần tiếng Việt, học trò tới đông đến nỗi ngồi cả vào dãy ghế khảm trai bày bán cạnh đấy mà vẫn không hết. Bà Wang nghĩ ngay tới việc mở thêm lớp, chiêu thêm trò. Mỗi tuần hai tối cô tới dạy, tối nào cũng thấy có một lớp tiếng Hoa ngay trên đầu. Nghe nói các tối khác trong tuần đều chật cứng. Thỉnh thoảng nếu cô và giáo viên tiếng Hoa có bất ngờ gặp nhau thì chỉ dừng lại chào một câu. Chẳng ai biết tên ai. Quan hệ không có gì đặc biệt. Tiếng ồn vẫn còn ở mức độ chấp nhận được, trừ những khi lớp trên kia học hát, và chỉ độc một bài “Đông phương hồng, mặt trời lên, hu ớ hai da”.

Lúc này, bước trên vỉa hè nhớp nháp nước mưa, cô lại nghĩ từ bây giờ trở đi, tối thứ Hai cô sẽ không bao giờ còn bị bài « Đông phương hồng » ấy ám ảnh. Cũng chẳng còn dịp nào để hỏi “hu ớ hai da” nghĩa là gì. Học sinh cả tiếng Việt lẫn tiếng Hoa của thứ Hai đang lần lượt đầu hàng vô tuyến truyền hình. Lớp tiếng Việt chỉ còn hai phụ nữ lớn tuổi. Lớp tiếng Hoa hôm nay vắng đến nỗi giáo viên đã quyết định cho nghỉ ngay từ đầu. Học hát đã thuộc về quá khứ. Hai phụ nữ lớn tuổi không biết còn trụ được bao lâu?

Cô quay đầu tìm xem họ có đứng tránh mưa dưới một mái hiên bên cạnh. Nhưng cả một đoạn vỉa hè chỉ còn lại những thân cây tối om.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s