blog của Thuận

Thang máy Sài Gòn (22, 23)

Leave a comment

22

Paris

“Paul Polotski ấy à? Tôi đã muốn đập nát cái bản mặt của lão. Nhưng tôi không làm thế. Tôi viết cho lão một bức thư. Tôi cũng chẳng nhớ chính xác đã viết những gì trong đó. Hẳn là những câu ướt át, đắm đuối, rẻ tiền mà bất cứ ai cũng có thể mười lăm phút tuôn ra cả rổ. Nhưng tôi biết là lão sẽ mắc bẫy. Quả như thế. Hai hôm sau khi quẳng thư vào thùng thì tôi nhận được hồi âm của lão. Lão viết rằng lão không ngờ tôi vẫn còn nhớ tới lão sau ngần ấy năm, rằng ngần ấy năm lão sống trong đau khổ vì đã đành lòng bỏ rơi tôi. Lão huyên thuyên một trang liền về cái gọi là “cuộc chiến giữa lý trí và tình cảm”. Sau đó lại lảm nhảm một trang nữa về cái gọi là “hy sinh cho tổ quốc thân yêu”. Lão cứ tưởng tôi vẫn ngu xuẩn như ngày xưa để có thể tin được vào mấy cái trò nhạt phèo ấy của lão, rằng lão yêu tôi nhưng vì Công tác mà tổ chức giao cho, lão không thể phụ bạc vợ, người phụ nữ đã ở bên cạnh lão trong mọi gian truân, vân vân và vân vân… Rồi lão bảo lão cô đơn quá đỗi và rất muốn gặp tôi, nếu tôi cho phép. Tất nhiên là tôi trả lời rằng tôi cho phép. Thế là lão mò tới ngay. Lão có vẻ xúc động. Tay lão run run. Hoặc cũng có thể tôi nhầm. Tay người già nào mà chẳng run. Nhưng lão xúc động thật hay xúc động giả thì tôi cũng cóc cần biết. Mục đích của tôi bây giờ không còn là tìm hiểu con người lão. Tôi mời lão uống chè đen với chanh tươi rồi thỏ thẻ với lão vài lời trách móc. Tất nhiên là kèm theo mấy động tác ngọt ngào. Xong xuôi, tôi rủ lão đi dạo. Lão hăm hở đi. Tôi bồi thêm cho lão mấy câu lăng quăng hoa lá cành. Và vào chính cái lúc mà lão tưởng bở nhất thì tôi tếch lên taxi, mặc xác lão giữa đám người đi vét đồ giảm giá. Tôi chỉ cầu mong cho họ giẫm lên xác lão hộ tôi. Lão mà tỏi thì tôi sẽ gửi viếng một vòng hoa thật to. Nhưng lão vẫn sống nhăn.”

Cô mở to mắt. Từ lúc nghe những lời tâm sự huỵch toẹt này, cô luôn tự hỏi: đối diện với cô có phải là người phụ nữ đội mũ rộng vành đã đi dạo cùng Paul Polotski.

Vài hôm sau cái ngày đi theo hai nhân vật ở trung tâm ngoại ô Montrouge, cô đã một mình quay lại tòa nhà có hai cánh cổng sơn màu đỏ gụ để gặp chị gác cổng, nhận nốt bầu tâm sự dở dang hôm trước, rồi được chị ấy nhiệt tình đưa lên gặp “nữ bá tước Astrakhan” để hỏi thăm tin tức về “ông Paul”. Hóa ra hôm trước, thoáng thấy Polotski chị ấy nhận ra ngay mặc dù đã gặp ông ta cách đây mấy chục năm có lẻ, vào cái hồi mà bố mẹ chị ấy còn làm gác cổng cho tòa nhà này. Hồi đấy, đôi khi chị ấy vẫn được mẹ giao cho những nhiệm vụ nho nhỏ, trong đó có việc mang lên cho “nữ bá tước Astrakhan” một hộp các tông do cửa hàng bán mũ chuyển tới nhằm lúc bà ta không có nhà. Lần nào cũng vậy, cửa mở sẵn và chị ấy, theo lời dặn của bà ta, mang hộp vào tận phòng ngủ, vì thế mà ngó được tận mắt cảnh Polotski nửa nằm nửa ngồi trên giường, còn bà ta thì phủ phục bên cạnh, tay ôm một con mèo, rất là lãng mạn. “Ông Paul điển trai và ăn vận lịch sự, không bao giờ rời cặp kính râm”, chị ấy nhận xét, “nữ bá tước Astrakhan trái lại không đẹp, mũi quá khổ và có ria mép, nhưng biết cách làm đỏm, trang phục như đi dự tiệc, mùa đông cũng như mùa hè luôn luôn đội mũ”. Cô tròn mắt và chị ta nói tiếp: “Trong căn hộ nữ bá tước Astrakhan dành hẳn một phòng chỉ để bày mũ!”

Về chuyện mũ thì mấy phút sau cô phải công nhận là chính xác. Ngay ở lối vào, cô đã nhìn thấy mũ treo la liệt trên những móc nhỏ đóng thẳng vào tường. Từ phòng bên, vọng ra một giọng khàn khàn, ra lệnh cho chị gác cổng dẫn cô sang “phòng mũ”. Lập tức cô có cảm giác như lạc vào một cửa hàng bán mũ. Bộ sưu tập mũ của nữ bá tước Astrakhan dễ tới cả trăm chiếc, để đầy trên các giá gỗ cao thấp khác nhau, phần lớn có vành rộng, một số còn có cả chàng mạng mỏng tang, nhưng đều đã phủ bụi. Chiếc phất trần treo ngay cạnh đấy phủ bụi trắng xóa. Trong góc phòng, một lò sưởi tuyệt đẹp bằng đá cũng im lìm dưới lớp bụi dày. Toàn bộ căn hộ bốc lên một mùi hăng hắc kỳ lạ, một thứ mùi tổng hợp của nhiều mùi, ngoài mùi nước hoa, mùi thuốc lá quấn tay, mùi bát đĩa bẩn, mùi quần áo lâu ngày không thay, mùi toa lét lâu ngày không cọ, còn một mùi nữa mà cô chưa đoán ra.

Cuộc nói chuyện tay đôi giữa nữ bá tước Astrakhan và cô kéo dài đúng mười phút (khi chị gác cổng gọi điện lên để xin phép, bà ta đồng ý tiếp nhưng ra điều kiện chỉ được mười phút, không phải vì không có thời gian, không phải vì không trân trọng “người quen” của chị ấy, mà vì bà ta đã chán ngấy chủ đề Paul Polotski). Tham quan xong “phòng mũ”, cô không được mời sang phòng khách mà vào phòng ngủ.

Trung tâm phòng ngủ là một cái giường sắt đồ sộ, khăn trải giường bằng xa tanh hồng viền đăng ten nham nhở như bị chuột gặm. Quấn mình trong một chiếc áo ngủ bằng voan mỏng, nửa nằm nửa ngồi trên giường, đầu tựa lên một chồng gối cáu bẩn, tay này ôm một con mèo, tay kia dụi điếu thuốc đang hút dở vào gạt tàn, nữ bá tước Astrakhan mang dáng vẻ của một gái điếm về già. Da dẻ nhăn nheo và bự phấn. Chiếc mũi tuy không hẳn “quá khổ” như chị gác cổng miêu tả lúc nãy nhưng rúm ró thành một cục ngay giữa khuôn mặt. Bộ ngực qua lớp voan chảy sệ xuống gần thắt lưng. Nhưng có lẽ kinh hãi nhất là mái tóc nhuộm đen, mỏng dính, để lộ từng mảng da đầu mà không cần sờ tay vào thì người ta cũng có thể đoán là rất nhũn. Cô vội nhìn lên tấm chân dung bán thân sơn dầu trên vải, đóng khung vàng hình bầu dục, treo ngay đầu giường. Con người trong khung chẳng đẹp đẽ gì, đỉnh điểm của dung tục, nhưng dù thế nào cũng không thể xấu hơn cái đống bầy nhầy, sực nức mùi nước hoa rẻ tiền, đang nằm ghếch đùi cách cô chưa đầy một mét. Không thể nào tưởng tượng đó chính là người phụ nữ đội mũ rộng vành từng thủ thỉ cùng Polotski, rồi lại bỏ rơi ông ta giữa đường hôm trước. Cô còn nhớ đã sững sờ thế nào khi chứng kiến cảnh bà ta bước thẳng lên taxi và hất đầu ra hiệu cho tài xế chuyển bánh, còn ông ta thì đứng như trời trồng. Rồi cô lại tự hỏi trong cái tòa nhà bảy tầng ở ngoại ô phía Nam này, ngoài “Công chúa An Nam” và “nữ bá tước Astrakhan” còn có bao nhiêu đại diện của quí tộc nước ngoài.  Cô từng nghe bảo trong khu nhà cô ở hiện nay có hẳn một hoàng tộc châu Phi. Cô cũng từng nghe bảo trong tòa nhà chọc trời này của khu phố Tàu có một công chúa Lào đang làm gác cổng, còn khu nhà chọc trời kia (cũng của khu phố Tàu) có một thái tử Miến Điện đang chuẩn bị hồi hương, cướp chính quyền…

“Nữ bá tước Astrakhan” tỏ ra rất hãnh diện về tấm chân dung. Bà ta trịnh trọng thông báo rằng cách đây hai chục năm đã phải trả cho họa sĩ số tiền một nghìn quan, “tương đương với một tháng tiền nhà”, nói xong đưa cả hai tay xoa lưng con mèo ra chiều âu yếm lắm. Cô thở dài tự nhủ một trăm năm mươi euro bây giờ chẳng thuê nổi một cái hầm nhỏ chứa đồ. Hẳn là người chủ căn hộ hay con cháu của ông ta không ít lần muốn cầm súng tới đây, nhưng cuối cùng lại sợ án tù chung thân nên nữ bá tước Astrakhan vẫn sống nhăn nhở để tiếp tục mấy chục năm liền trả một cái giá thuê nhà bèo bọt chưa từng thấy. Kể ra bà ta cũng biết lo cho tương lai từ rất xa. Nếu bà ta từng là gái điếm thì có lẽ là một gái điếm khôn ngoan. Rồi cô lại cố hình dung ra cảnh Paul Polotski đẹp trai nửa nằm nửa ngồi trên giường, đầu tựa lên chồng gối cáu bẩn, còn bà ta phủ phục bên cạnh, một cảnh “rất lãng mạn” theo lời đánh giá của chị gác cổng. Nhưng cô thất bại hoàn toàn.

– Đã nhìn thấy heo nái của lão chưa? nữ bá tước Astrakhan đột ngột lên tiếng, hai tay không ngừng ve vuốt con mèo. Mụ ta béo tròn, có lẽ lăn nhanh hơn đi. Ngày trước, mỗi lần lão ra tới cửa, tôi đều nói với theo “cho gửi lời thăm heo nái nhé”, lão rất ngượng nhưng cứng họng nên biến thẳng.

Cô giật mình. Người đàn bà khẳng khiu như một que củi và không thấp hơn Polotski chút nào, cô cứ đinh ninh là vợ ông ta. Ít ra thì cô cũng đã hai lần chứng kiến hai người cùng rời nhà, sau đó ông ta tiếp tục tới trường, còn bà ta thì có lẽ đi chơi hay thăm thú ai đó vì ăn vận lịch sự, đặc biệt là mái tóc được chăm sóc rất công phu.

– Rất có thể ông ta đã ly dị giữa chừng?

Câu hỏi của cô được đáp lại bằng một tràng cười khùng khục kéo dài có đến cả phút. Cô quay sang nhìn kẻ đối diện, tự nhủ nói cho cùng bà ta cũng là người vui tính. Trên đường tới đây, cô đã chuẩn bị tinh thần phải ngồi nghe suốt buổi chiều một thiên tình sử diễm lệ thế nào cũng tim tím màu tử đinh hương. Nhưng nữ bá tước Astrakhan cười đến rơi cả nước mắt, một vệt đen đen chảy từ mí dưới, vòng qua tuyến lệ, bò xuống tận giữa cằm:

– Ôi giời ơi, sao lại có người ngây thơ thế nhỉ? Paul Polotski mà dám ra tòa ly dị thì trời sụp. Nói thật, chuyện này khó tin ngang tuyết rơi mùa hè.

– Hoặc vợ cũ ông ta đã bỏ đi và người bây giờ là vợ mới?

– Không, không bao giờ có chuyện đó, bà ta nhanh chóng đáp lại, tuy hơi ngập ngừng, có vẻ như bản thân cũng không tin một trăm phần trăm vào điều đang nói. Nhưng trấn tĩnh ngay lập tức, vuốt ve con mèo bằng đôi tay nổi gân chằng chịt và rất có nghề (khiến nó phát ra những tiếng rên nho nhỏ), bà ta nhìn thẳng vào mặt cô giọng khiêu khích:

– Có biết ông ấy từng làm tới chức vụ gì không?

A, cái này thì cô chưa bao giờ nghĩ tới và cô đang định nói với bà ta như thế, nhưng bà ta đã lại bò ra cười rồi xua tay ra hiệu cô không cần phải trả lời. Cười chán chê, lấy ống tay áo ngủ lau mắt, bà ta lại ngả lưng vào chồng gối cáu bẩn, con mèo tiếp tục rên rỉ. Cô nhìn đồng hồ đeo tay, vội vã hỏi:

– Ông ta phục vụ cho tổ chức nào?

Cô vừa dứt lời, nữ bá tước Astrakhan đã bất ngờ ném con mèo ra góc xa nhất của căn phòng rồi bật dậy tuyên bố:

– Chủ đề Paul Polotski từ nay vĩnh viễn nằm trong sọt rác!

Ngay lập tức, đồng hồ đầu giường reng một tiếng chói tai, hẳn là được đặt báo thức “đúng mười phút” như bà ta đã đưa điều kiện qua chị gác cổng.

Con mèo loạng choạng ngồi dậy, ngơ ngác một lát rồi từ từ bước ra khỏi phòng. Bà ta vớ điếu thuốc hút dở lúc nãy đưa lên môi, châm lửa đốt và nhả khói theo đường mũi thành những đám mây.

Sau đó, cô được mời ở lại uống chè đen mà bà ta ra lệnh cho chị gác cổng rót từ ấm xa-mô-va “đã pha sẵn trong bếp”. Nhìn ba ly thủy tinh cáu ghét đựng một thứ nước nhờn nhợt tanh lòm, cô không hiểu Polotski muốn tìm gì ở mụ phù thủy già kia. Nhưng điều mà cô quan tâm lúc này là “ông ta phục vụ cho tổ chức nào”. Rồi cô tự hỏi tất cả những gì đi từ miệng nữ bá tước Astrakhan đáng tin bao nhiêu phần trăm.

Bà ta là một người khôn ngoan, cô phải công nhận như thế. Một lần lấy cớ vào bếp tìm đường viên, cô đã làm hai vòng căn hộ nhưng không tìm được dấu vết nào của Polotski và của con mèo.

Bà ta là người biết cách làm đỏm. Ra ngoài đường không thể thiếu mũ, ở trong nhà (khi không thể đội mũ) thì lại bắt buộc có mèo. Nhưng nếu bà ta chi bộn tiền vào mũ (để có những chiếc rất cầu kỳ) và hy sinh hẳn một phòng chỉ để bày mũ (chính là phòng khách với lò sưởi tuyệt đẹp bằng đá), thì ngược lại bà ta hầu như chẳng chi khoản nào cho mèo (một đống đồ hộp đã mở và chưa mở trong bếp, tuyệt nhiên không cái nào chứa thức ăn của mèo) cũng chẳng buồn sắm cho nó một cái ổ (chiếc rổ mây duy nhất trong nhà lại chính là chiếc được dùng để đựng vỏ đồ hộp). Vì sao lại có sự phân biệt đối xử như vậy? Cô suy nghĩ và không tìm thấy lý do nào khả dĩ hơn lý do sau đây: một chiếc mũ cầu kỳ (đã rộng vành lại có chàng mạng) giúp người đội nó che đi khuôn mặt xấu xí với một cái mũi quá khổ; trong khi đó, một con mèo được chăm sóc tử tế  (được ăn đồ hộp và ngủ rổ mây) không thể khiến khuôn mặt của người đang vuốt ve nó từ xấu xí bỗng trở thành xinh đẹp; không những thế nó còn kém một con mèo chột mắt hay rụng lông ở chỗ một con mèo chột mắt hay rụng lông ít ra cũng giúp người đang vuốt ve nó bày tỏ khả năng và ham muốn vuốt ve vô cùng lớn của mình (phải lớn thế nào mới bỏ qua được hai thứ là chột mắt và rụng lông).

viva la politica 001

23

Paris

Cô tưởng tượng nữ bá tước Astrakhan mỗi khi sắp có khách tới thăm, đều ra ngoài bế một con mèo lang thang nào đó về nhà, cho nó một chút đồ hộp mà bà ta vừa bỏ mứa ở bữa trước, rồi ra sức vuốt ve nó trước mặt khách, nhưng khi khách bước chân ra khỏi cửa thì bà ta cũng lập tức tống tiễn con mèo. Có những con mèo đa cảm và tham ăn không muốn tiếp tục cuộc đời lang thang và đói khát (cả thức ăn lẫn tình thương), nên kiên quyết ở lại, ngỡ là sẽ tiếp tục được vuốt ve và cho xơi đồ hộp. Bị bà ta đá đít rồi quẳng qua cửa sổ mà chúng vẫn tìm cách quay về (chúng thường núp sẵn ở cửa, chỉ đợi cửa mở là luồn ngay vào). Nếu may mắn mà bà ta sắp có khách tới thăm thì chúng sẽ được giữ lại, được cho xơi đồ hộp thừa và vuốt ve, rồi sau đó lại bị đá đít và quẳng qua cửa sổ, quy trình cũ sẽ lập lại. Nếu không may mà bà ta cả tuần chẳng có ai đoái hoài (điều này, thật đáng tiếc, lại tăng lên cùng với tuổi già) thì chúng sẽ bị bỏ đói cho tới chết, vì bà ta sẽ giận cá chém thớt và nhất định đóng chặt cửa bếp để chúng không thể trốn vào ăn vụng đống đồ hộp mà bà ta vẫn bỏ mứa, cũng như đóng chặt cửa chính và mọi cửa sổ để chúng không thể trốn ra ngoài bới thùng rác công cộng. Thế là không còn lối thoát cho những con mèo đa cảm và tham ăn. Cô hít mạnh một cái rồi tự nhủ một trong những yết tố tạo nên cái mùi hăng hắc mà cô chưa nhận ra lúc nãy chính là mùi mèo chết.

Nhưng tại sao nữ bá tước Astrakhan lại có nhu cầu bày tỏ với cô khả năng và ham muốn vuốt ve của mình?

Cô hình dung một cảnh tượng như sau: ngay khi nhận được hồi âm của Paul Polotski, bà ta ra đầu phố và lập tức tìm được một con mèo đang thoi thóp trên vỉa hè, nó quá già và chỉ có thể kiếm ăn quanh quẩn khu này, nhưng từ hôm qua tới giờ nó chưa có cái gì vào bụng vì thùng rác công cộng đã bị bọn thanh niên nghịch ngợm dùng keo siêu dính dán chặt lấy nắp.

Mang nó lên nhà, cho nó xơi toàn bộ hộp cá mòi xốt cà chua mà bà ta không tài nào nuốt nổi lúc ban trưa, bà ta bế nó ra giường rồi bắt đầu vuốt ve con mèo già khốn khổ. Dễ đến chục năm nay bà ta mới có dịp làm lại động tác này và hai bàn tay đương nhiên không thể tránh khỏi ngượng nghịu. Tuy vậy, kết quả thật mỹ mãn: con mèo run rẩy vì sung sướng, từ hai khóe mắt của nó những giọt nước theo nhau rơi ra, suốt cuộc đời lang bạt kì hồ nó chưa bao giờ được một bữa no nê và lạ miệng như thế, được người khác âu yếm vuốt ve như thế. Nữ bá tước Astrakhan nhìn nó kinh ngạc, suốt cuộc đời mua vui cho đám đàn ông, bà ta chưa bao giờ gặp con mèo nào đa cảm hơn con mèo này. Bà ta quyết định giữ nó lại cho tới cuộc hội ngộ với Paul Polotski. Mục đích của bà ta rất rõ ràng: hai hôm nữa, phải bỏ rơi Paul Polotski phũ phàng như ông ta đã bỏ rơi bà ta cách đây mấy chục năm. Hai chữ “phũ phàng” là hai chữ mà bà ta nhằm tới. Phải làm sao cho thật phũ phàng. Và lý luận của bà ta đơn giản thế này: ngày xưa bà ta cảm thấy bị bỏ rơi phũ phàng vì ngay trước đó đã quá tin tưởng vào tình cảm của Paul Polotski, nên bây giờ để ông ta cảm thấy bị bỏ rơi phũ phàng, phải tìm cách để ông ta ngay trước đó tin như đinh đóng cột vào tình cảm của bà ta.

Mọi sự đã xảy ra đúng như dự tính. Paul Polotski có mặt sớm hơn mấy phút, thấy cửa mở nhưng không dám bước vào ngay, sau đó được mời vào phòng ngủ cũng không dám ngồi xuống giường ngay, được mời uống chè đen với chanh tươi cũng không dám xin thêm đường viên, được thỏ thẻ vài lời trách móc cũng không dám mở miệng thanh minh. Tóm lại, bao nhiêu hay ho của “cuộc chiến giữa lý trí và tình cảm” và “sự hy sinh cho tổ quốc” đã đổ hết vào lá thư hồi âm, còn đối diện với nữ bá tước Astrakhan thì Paul Polotski nơm nớp sợ người tình xưa hạch tội. Chỉ khi bà ta bế con mèo già khốn khổ vào lòng và đưa hai tay vuốt ve nó (bà ta gọi đó là mấy “động tác ngọt ngào”) thì ông ta mới bớt lo lắng và nhen nhóm hy vọng. Con mèo càng rên rỉ vì sung sướng, ông ta càng hy vọng. Con mèo, như ông ta vẫn nhớ, là vật trung gian để bà ta bày tỏ ham muốn và khả năng vuốt ve của mình. Lúc những giọt nước thi nhau rơi ra từ khóe mắt của con mèo cũng là lúc hy vọng của ông ta đang dần dần biến thành niềm tin. Rồi hai người đi dạo ở trung tâm ngoại ô Montrouge, bà ta mặc váy dài, đội mũ rộng vành màu đỏ gụ, ông ta theo sát sau lưng, thỉnh thoảng lại cúi xuống thủ thỉ, xa xa là tháp chuông nhà thờ, thi vị không khác tiểu thuyết thế kỷ mười chín. Được bồi thêm vài câu hoa lá cành, ông ta khấp khởi nghĩ tới tình cảm của bà ta. Bước lên để ôm lấy vai nữ bá tước Astrakhan là động tác mà ông ta chỉ làm khi đã hoàn toàn tin tưởng. Nhưng “vào chính cái lúc mà lão tưởng bở nhất thì tôi tếch lên taxi, mặc xác lão giữa đám người đi vét đồ giảm giá”. Bà ta đắc thắng kể cho cô. Mối thù xưa đã được trả xong.

Về tới nhà, việc đầu tiên của nữ bá tước Astrakhan là đá vào đít con mèo rồi quẳng nó qua cửa sổ (như bà ta vẫn từng làm), xong xuôi bà ta phủi tay vào nhau và lên giường nằm rít thuốc lá nhâm nhi chiến thắng. Paul Polotski không thể nào bị bỏ rơi một cách phũ phàng hơn cú vừa rồi, bà ta tự nhủ, tưởng tượng kẻ thù của mình trong cơn choáng váng sẽ lăn kềnh ra đất và rất có thể sẽ bất lực chứng kiến người đi đường giẫm lên đùi, lên bụng, lên ngực mình. “Nhất định phải theo dõi báo chí để xem gia đình lão có gửi cáo phó”, bà ta thì thầm một cách khoái chí.

Tuy vậy, hút xong điếu thuốc, hồi tưởng lại sự việc, bà ta bắt đầu cảm thấy tiếc cho đôi tay bấy lâu nay không được sử dụng tới. Bà ta tin vào tiềm năng vuốt ve của chúng, miễn là chịu khó tập luyện cho đừng bị mất thói quen. Nghĩ tới đây bà ta vùng dậy, mở tủ lấy chiếc váy ngủ bằng voan mỏng mặc vào người rồi ra đứng trước gương. Quay trước quay sau, bà ta gật đầu tự nhủ: “Phải Công nhận là mình kháng cự với tuổi già không đến nỗi tồi!”.

Một quyết định đột ngột được đưa ra: từ nay bà ta sẽ lao vào cuộc chiến chống lại bọn con gái trẻ. “Tuổi trẻ không bao giờ là tất cả”,bà ta nói to rồi ngồi vào bàn phác thảo một quảng cáo như sau: “Elizabeta, nữ bá tước Astrakhan, mắt xanh mơ màng, không còn trẻ nhưng dày dặn kinh nghiệm và hừng hực sức sống, đôi tay của nàng chắc chắn sẽ đưa chàng lên đỉnh. Hân hạnh đón tiếp tất cả các đại diện của phái mạnh, không phân biệt tuổi tác và màu da”.

Cuộc gặp gỡ với cô trên thực tế chỉ là một dịp để nữ bá tước Astrakhan tập luyện đôi tay. Bà ta tự nhủ nếu phụ nữ cũng tỏ ra ngưỡng mộ khả năng vuốt ve của bà ta thì có nghĩa là bà ta sẽ thành công với cả những vị khách đàn ông khó tính nhất. Thế là ngay sau khi nhận được cú điện thoại của chị gác cổng, bà ta đã xuống sân sau định tìm một con mèo lang thang thì đụng phải con mèo già hôm trước. Mặc dù rất đa cảm (tính đa cảm của nó đã khiến bà ta kinh ngạc), nó cũng là một con mèo lang bạt kì hồ và khá từng trải. Bị bà ta đá đít và ném qua cửa sổ, nó đã hiểu ra vấn đề và tự nhủ ngay cả khi sức khỏe của nó khá khẩm hơn, nó cũng sẽ không bao giờ chịu leo mấy tầng thang gác rồi ngồi rình để lúc nào cửa mở thì lẻn vào, đợi bà ta bố thí cho chút đồ hộp và vài cái vuốt ve, nó từng này tuổi và không cho phép mình ngu xuẩn như những con mèo trẻ người non dạ khác.

Nữ bá tước Astrakhan không hề đếm xỉa tới những suy nghĩ ấy của con mèo già, cứ thế vác nó lên nhà, quẳng cho nửa hộp pa tê gan mà bà ta ăn thừa cách đấy mấy tiếng. Sau đó, cô bước vào cùng chị gác cổng và mọi việc xảy ra như cô vừa chứng kiến. Mọi việc, trừ cuộc đấu tranh nội tâm của con mèo! Vâng, đúng thế, mặc dù vẫn bị coi là con vật có chỉ số IQ cực kỳ hạn chế, mèo cũng có cuộc sống nội tâm và vì vậy, đôi khi cũng phải trải qua một cuộc đấu tranh nội tâm nho nhỏ. Được xơi nửa hộp pa tê gan và được xoa lưng ngay khi khách xuất hiện, con mèo già khốn khổ vẫn cố gắng chế ngự tính đa cảm của mình. Tuy vậy, khi nữ bá tước Astrakhan ra sức thao tác hai tay để vuốt ve con vật (bà ta có vẻ bị kích thích vì nó đã không run rẩy lập tức như lần trước) thì nó đành đầu hàng vô điều kiện và len lén mơ màng tới phần cuối đời êm ấm, bên một bà chủ đáng yêu.

Thế nhưng, đúng vào cái lúc mà nó phát ra những tiếng rên rỉ như cổ động cho đôi tay của bà ta, người với nó bây giờ đã trở thành ân nhân lớn nhất trên đời, thì nữ bá tước Astrakhan bất ngờ ném nó ra một góc xa nhất của căn phòng để tuyên bố với cô “đề tài Paul Polotski từ nay vĩnh viễn nằm trong sọt rác”.

Nó đau đớn và ngơ ngác. Nó từ từ bước ra khỏi phòng. Nó thề tìm mọi cách để thoát khỏi nơi đây. Trong lúc đám người ngồi uống chè đen từ ấm xa-mô-va, nó làm một vòng căn hộ để nhanh chóng nhận ra rằng cửa ra vào và tất cả các cửa sổ đều bị bà ta đóng kỹ. Tuy nhiên vẫn còn một cách, lại là cách khá mạo hiểm: chui vào lò sưởi trong “phòng mũ” rồi leo theo đường ống khói thông qua các tầng để lên tới mái nhà và sau đó, một khi đã ra được bên ngoài, lại men theo máng dẫn nước mưa để bò xuống mặt đất. Nó không chắc tình trạng sức khỏe của nó cho phép một hành trình khó nhọc như thế. Nó do dự. Dù từng trải đến mấy nó vẫn ham sống sợ chết. Nhưng có lẽ cuối cùng nó vẫn kiên quyết ra đi. Cô đã làm hai vòng căn hộ mà không tìm được dấu vết nào của con mèo già đáng thương.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s