blog của Thuận


Leave a comment

“MEURSAULT – TÁI ĐIỀU TRA” hay là câu trả lời cho “NGƯỜI XA LẠ”

Là em trai của “tên Ả-rập” từng bị “người xa lạ” giết chết trong tiểu thuyết nổi tiếng của Albert Camus, từ bé Haroun đã sống trong bóng tối kỷ niệm về người anh yểu mệnh. 70 năm sau, không chấp nhận để anh trai chìm trong vô danh và bất công, tối tối, trong một quán ba giữa nước Algieria nham nhở vết thương của một quá khứ thuộc địa, Haroun gặm nhấm cô đơn và giận dữ…

MEURSAULT – TÁI ĐIỀU TRA (tiểu thuyết, Kamel  Daoud, Acted Sud, 2014)

—————————
Giờ của tội ác không điểm cùng một lúc với tất cả các dân tộc
Tính liên tục của lịch sử được giải thích như thế đó.

E. M. Cioran
« Tam đoạn luận về sự chua chát ».

Hôm nay, mẹ vẫn sống. Mẹ không nói gì nữa, nhưng nếu muốn, mẹ vẫn có thể kể rất nhiều điều. Trái với tôi, vì cứ nhắc đi nhắc lại mãi câu chuyện này, tôi hầu như chẳng còn nhớ nữa.
Tôi muốn nói rằng đó là một câu chuyện có từ hơn nửa thế kỷ. Nó đã xảy ra và người ta đã nói nhiều về nó. Người ta vẫn còn nói về nó, nhưng chỉ gợi lại một người chết duy nhất – một cách trơ trẽn, cậu thấy không, trong khi có hẳn hai người chết. Vâng, hai người chết. Lý do của sự bỏ sót này ?
Người chết thứ nhất rất biết kể chuyện, đến nỗi mà hắn đã khiến người ta quên phắt tội ác của mình. Còn người chết thứ hai là một kẻ nghèo khổ, mù chữ, mà dường như Chúa Trời đã tạo ra chỉ để nhận một viên đạn và trở về cát bụi, một kẻ vô danh không có cả thời gian để có một tên gọi.
Tôi nói bạn thêm điều này : người chết thứ hai, người bị giết chết ấy, chính là anh trai của tôi. Giờ thì chẳng còn lại gì của anh. Chỉ còn mỗi tôi để nói hộ anh, đang ngồi ở quán bar, đợi mãi mà chẳng được ai chia buồn. Cậu có thể cười nhạo, nhưng sứ mệnh của tôi một chút gì đó như là bán lại sự yên lặng của hậu trường khi phòng chẳng còn ai. Ờ cũng chính vì thế mà tôi đã học nói và viết ngôn ngữ này ; để nói thay người đã khuất, tiếp tục chút nào đó vào lời của anh. Kẻ sát nhân đã trở nên nổi tiếng lừng lẫy và câu chuyện ấy được hắn viết tuyệt đến nỗi tôi không có định bắt chước hắn. Đó là ngôn ngữ của hắn mà. Thế nên tôi sẽ làm như nhiều người khác ở đất nước này sau ngày độc lập: lấy từng viên đá từ những ngôi nhà của thực dân để lại mà xây cho mình một ngôi nhà mới, một ngôn ngữ của chính tôi. Ngôn từ của kẻ sát nhân và những cách biểu thị của hắn trở thành một thứ của cải vô chủ cho tôi. Mà đất nước thì đang chất đầy những ngôn từ chẳng còn thuộc về ai, trước mặt tiền của những cửa hiệu cũ, trong những cuốn sách ố vàng, trên những khuôn mặt, hay bị biến đổi bởi thứ tiếng pha tạp kỳ lạ do chính sự giải phóng khỏi chế độ thực dân tạo ra.
Vậy đấy, kẻ sát nhân đã chết lâu lắm rồi, và cũng lâu lắm rồi anh tôi thôi không tổn tại trong tâm trí ai, ngoài tôi. Tôi biết, cậu đang nôn nóng hỏi cái loại câu hỏi mà tôi rất ghét, nhưng tôi yêu cầu cậu nghe tôi cho kỹ, cuối cùng cậu cũng sẽ hiểu cả thôi. Đó không phải là một câu chuyện bình thường. Đó là một câu chuyện được bắt đầu từ cuối và đi ngược về phía đầu. Vâng, như một đàn cá hồi được vẽ bằng bút chì. Giống tất cả những người khác, hẳn là cậu đã đọc câu chuyện đó như người viết ra nó kể lại. Hắn đã viết tài tình đến độ mà ngôn từ của hắn chẳng khác gì những viên đá được đẽo gọt tỉ mẩn. Hắn, nhân vật chính của cậu đó, là một người rất nghiêm khắc với các sắc thái của ngôn từ, hắn bắt chúng trở thành gần như toán học vậy. Những phép tính vô tận có thành phần chủ yếu là đá và quặng. Cậu đã thấy cách hắn viết chưa ? Như thể hắn sử dụng nghệ thuật làm thơ để nói về một phát súng. Thế giới của hắn thật sạch sẽ, được cắt tỉa bằng ánh sáng sớm mai, chính xác, rõ ràng, được vẽ nên với những mùi thơm và đường chân trời. Bóng đen duy nhất là bóng của mấy « tên Ả rập », những vật thể lờ mờ và thô thiển, cũ kỹ, tựa như những bóng ma có kèm tiếng sáo. Tôi tự nhủ hẳn là hắn cũng chán ngấy vì không biết làm gì trong một đất nước nơi chẳng thích hắn chết cũng chẳng muốn hắn sống. Vụ án mạng mà hắn gây nên có vẻ như một vụ giết kẻ thất tình bằng một mảnh đất mà anh ta không thể sở hữu. Chắc hắn đã đau khổ lắm, thật tội nghiệp. Phải làm đứa con của một nơi đã không sinh ra mình. Tôi cũng đã đọc bản tự thuật của hắn. Giống như cậu và hàng triệu người khác. Ngay từ đầu, chúng ta đã hiểu tất : hắn, hắn mang tên người, còn anh tôi thì mang tên một tai nạn. Hắn có thể gọi anh tôi là « hai giờ chiều » như gã kia từng gọi thằng nô lệ da đen của gã là « Thứ sáu ». Một thời điểm trong ngày thay vì một ngày trong tuần, hay quá còn gì. « Zoudj » trong tiếng Ả rập là số hai, cặp đôi, anh tôi và tôi, như một cặp song sinh. Tóm lại, anh được coi là một tên Ả rập, về mặt kỹ thuật là không bền, đã sống hai giờ và chết một mạch bảy mươi năm, ngay cả sau khi đã đem chôn. Anh như thể trong suốt: ngay cả chết từ tay người khác, anh vẫn không ngừng bị gọi bằng cái tên của một thoáng chốc, hai chiếc kim đồng hồ, mãi mãi như thế, để anh diễn lại cái chết của chính mình do viên đạn bắn ra từ nòng súng của một tên người Pháp chẳng biết làm gì ngày hôm đó, chẳng biết làm gì với phần còn lại của nhân loại mà hắn vác trên lưng.

Chưa hết đâu! Mỗi khi nhẩm lại câu chuyện này, tôi lại cáu điên – ít ra khi nào tôi đủ khỏe để cáu. Chính tên người Pháp đã đóng vai người chết trong vụ này và dông dài về việc hắn bị mất mẹ, rồi bị mất thân thể của hắn dưới ánh mặt trời, rồi bị mất thân thể của ả người tình của hắn, rồi đến nhà thờ để nhận ra rằng Thượng đế của hắn đã từ bỏ thân thể người, rồi ngồi canh xác của mẹ hắn và của hắn, vân vân và vân vân. Trời đất, làm sao có thể giết ai đó và lại cướp đi của người ta ngay cả cái chết ? Chính anh tôi đã nhận viên đạn đó, chứ không phải hắn. Chính Moussa, chứ không phải Meursault, đúng không nào ? Có một việc khiến tôi sững sờ : chẳng một ai, ngay cả sau ngày độc lập, đã đi tìm tên tuổi, địa chỉ, tổ tiên, con cháu nếu có của nạn nhân. Tất cả đều há hốc mồm trước cái ngôn ngữ tuyệt hảo như kim cương đã được mài cạnh, và tất cả đều tuyên bố rất thông cảm với sự cô độc của kẻ sát nhân bằng cách gửi cho hắn những lời chia buồn thông thái nhất. Ngày hôm nay, ai có thể cho tôi hay tên thật của Moussa ? Ai biết con sông nào đã mang Moussa ra tận biển nơi anh phải vượt bộ, đơn độc và không có gậy thần ? Ai biết Moussa có súng lục, triết học hay bị say nắng hay không ?

Moussa là ai ? Anh tôi đó. Tôi muốn kể cho cậu những điều mà Moussa không bao giờ có thể kể. Khi đẩy cửa bước vào quán ba này thì cậu đã mở cửa một nấm mồ, bạn trẻ ạ. Cậu có cuốn sách đó trong cặp chứ ? Được thôi, làm học trò đi và đọc cho tôi những đoạn đầu tiên nào…

Cậu hiểu chứ ? Không à ? Tôi sẽ giải thích cho cậu. Người đàn ông này, kẻ sát nhân đó, ngay khi mẹ hắn chết, hắn không còn quê hương nữa và rơi vào cảnh nhàn rỗi và phi lý. Đó là một Robinson khi tin rằng có thể thay đổi số phận bằng cách giết thằng bạn « thứ Sáu » của mình, nhưng lại phát hiện ra rằng hắn bị lừa ở lại trên đảo hoang và thế là bắt đầu dông dài một cách tài tình như một con vẹt tự mãn. « Poor Meursault, where are you ? » Nhắc lại câu này một chút và tôi thề là cậu sẽ thấy hắn bớt nực cười cho mà xem. Tôi bảo cậu làm thế là vì cậu thôi. Còn tôi, tôi thuộc lòng cuốn sách này, tôi có thể đọc nó từ A đến Z như đọc kinh Coran. Câu chuyện này đã được viết bởi một xác chết chứ không phải bởi một nhà văn. Có thể nhận biết điều này ở cách hắn rất khổ sở khi tiếp xúc với mặt trời, khi lóa mắt trước màu sắc, và chẳng còn có được ý kiến ý cò về bất cứ cái gì ngoài mặt trời, biển và những tảng đá có từ đời nảo đời nào. Ngay từ đầu, chúng ta đã cảm thấy hắn đi tìm anh tôi. Trên thực tế, hắn tìm anh ấy không phải để gặp mà để chẳng bao giờ phải gặp. Mỗi khi nghĩ đến chuyện đó, điều làm tôi đau nhất là hắn đã giết anh ấy bằng cách bước qua người chứ không phải bắn từ trên xuống. Cậu biết không, tội ác của hắn uể oải một cách oai vệ. Nó khiến cho tôi sau này không thể nào chứng minh anh tôi là một “chahid”. Tuẫn đạo đã đến quá muộn. Trong suốt thời gian đó, anh tôi đã tan thây nát thịt dưới lòng đất và cuốn sách của hắn đã thành công rực rỡ như ta thấy đó. Tiếp theo, tất cả mọi người cùng gãy lưỡi chứng minh rằng không có vụ giết người nào cả, chỉ có sự say nắng mà thôi.

Haha, cậu uống gì nào? Ở đây, rượu ngon nhất là loại người ta tặng sau khi đã chết, chứ không phải trước đâu. Do tôn giáo, anh bạn ạ. Uống nhanh lên, vài năm nữa, quán ba duy nhất còn mở sẽ là quán ba trên thiên đường, sau ngày tận thế.

Tôi sẽ tóm tắt câu chuyện trước khi kể: một người biết viết đã giết một kẻ mà hôm đó còn chưa có cả tên (như thể anh ấy đã để nó móc vào một cái đinh khi gặp nạn) – giết xong rồi hắn giải thích rằng đó là lỗi của một Chúa trời không hề hiện diện trên đời, rằng đó là do những gì mà hắn vừa hiểu ra dưới ánh mặt trời, rằng vì muối biển đã bắt hắn phải nhắm mắt lại. Đùng một cái, giết người trở thành một hành động không thể bị trừng phạt và nó không phải là một tội ác vì không có luật pháp giữa trưa và hai giờ chiều, giữa hắn và Zoudj, giữa Meursault và Moussa. Sau đó, bảy mươi năm liền, tất cả mọi người cùng bu vào để nhanh chóng giấu đi thi thể của nạn nhân và biến địa điểm gây tội thành một bảo tang phi vật chất. Meursault có nghĩa là gì? Meurt seul (chết một mình)? Meurt sot (chết ngu xuẩn) ? Ne meurt jamais (không bao giờ chết) ? Anh tôi không có quyền được một từ nào trong câu chuyện này cả. daoudỞ đây, cậu cũng như những người trước cậu, cậu đã hiểu sai rồi. Sự phi lý, chính anh tôi và tôi đã vác nó trên vai hay trong bụng của đất đai chúng tôi, chứ không phải hắn. Hãy hiểu tôi cho đúng, tôi không bày tỏ nỗi buồn hay sự giận dữ. Thậm chí tôi cũng chẳng giở trò tang tóc, chỉ có điều, chỉ có điều gì nhỉ… Tôi cũng không biết nữa. Tôi tin là tôi muốn công lý phải được thực hiện. Ở tuổi tôi, điều này có vẻ là lố bịch… Nhưng tôi thề là như vậy. Ý tôi muốn nói : đó không phải công lý của tòa án mà là công lý của «cân bằng». Thêm vào đó, tôi còn một lý do nữa : tôi muốn chết mà không bị một bóng ma truy đuổi. Tôi tin là tôi đã đoán ra tại sao người ta viết những cuốn sách đích thực. Không phải để trở nên nổi tiếng mà để trở nên vô hình hơn nữa, nhưng vẫn đòi được ăn nhân lõi thật của quả đất.

Uống đi và nhìn qua cửa sổ, cậu sẽ thấy đất nước này như một bể cá. Ờ, mà cũng tại cậu cơ, anh bạn trẻ ạ, chính sự tò mò của cậu đã khiêu khích tôi. Tôi đã đợi cậu lâu lắm rồi, và nếu tôi không viết được cuốn sách của mình thì tôi cũng có thể kể nó cho cậu nghe, đúng không ? Một người uống bao giờ cũng mơ có một người nghe. Đó là minh triết trong ngày, hãy ghi vào sổ tay của cậu đi.

Đơn giản thôi, câu chuyện kia phải được viết lại, vẫn cùng một ngôn ngữ, nhưng từ phải sang trái. Nghĩa là bắt đầu bởi thân thể đó lúc còn sống, bởi những con hẻm đã dẫn nó đến cái chết, bởi cái tên Ả-rập, cho tới cuộc gặp gỡ của nó với viên đạn. Thế nên, tôi đã học ngôn ngữ này, một phần để thay anh tôi kể lại câu chuyện, anh tôi người bạn của mặt trời. Cậu thấy chuyện này có vẻ như không có thật ? Cậu nhầm rồi. Tôi đã phải tìm câu trả lời ấy, câu trả lời mà không ai muốn cho tôi biết đúng lúc cần biết. Một cái lưỡi được uống và tự nói, rồi một ngày nó sẽ sở hữu ta; và nó sẽ có thói quen thay ta nắm mọi thứ, nó chiếm lấy miệng như cặp tình nhân trong nụ hôn ngấu nghiến. Tôi quen một người đã học viết tiếng Pháp chỉ vì người cha mù chữ của anh ta một hôm nhận được một bức điện mà chẳng ai có thể hiểu được nội dung – đó là vào thời đại của nhân vật chính và bọn thực dân. Bức điện chết thối trong túi áo anh ta cho tới khi có người đọc nó. Trong đó, thông báo vỏn vẹn ba dòng rằng mẹ anh ta đã qua đời trong vùng quê xa xôi không một bóng cây. « Tôi đã học viết vì cha tôi và để việc này sẽ không bao giờ xảy ra lần nữa. Tôi không bao giờ quên được cơn giận bản thân của cha và ánh mắt ông nhìn tôi cầu cứu », anh ta nói với tôi. Thực ra, tôi cũng có lý do y hệt anh ta. Thôi, hãy tiếp tục đọc đi mặc dù trong đầu tôi đã có cả rồi. Tối nào cũng thế, anh tôi Moussa, tức Zoudj, cũng hiện lên từ thế giới bên kia, giật râu tôi và kêu : «Ôi, em Haroun, sao em lại để người ta làm vậy ? Anh đâu phải con bò cái tơ, trời ơi, anh là anh ruột của em cơ mà». Cậu đọc tiếp đi nào !

Cần nói ngay từ đầu : chúng tôi chỉ có hai anh em, không người tình như nhân vật chính viết trong sách nhé, Moussa là cả, đầu anh ấy chạm mây. Đúng vậy, anh ấy rất cao, nhưng gầy, gồ ghề vì đói và vì sức lực mà giận dữ mang đến. Anh có gương mặt góc cạnh, đôi bàn tay rộng che chở cho tôi và đôi mắt nghiêm khắc do đất đai của tổ tiên bị mất. Nhưng khi nghĩ tới điều này, tôi tin rằng anh đã yêu chúng tôi như cách của người chết yêu người thân của mình, nghĩa là với ánh mắt đến từ thế giới bên kia và không lời lẽ thừa mứa. Tôi chỉ nhớ ít hình ảnh về anh nhưng tôi sẽ cố tả tỉ mỉ cho cậu. Hôm đó anh từ chợ hay cảng về sớm ; anh làm phu khuân vác và bất kỳ việc gì ở những nơi đó : bê, kéo, nhấc, đổ mồ hôi. Hôm đó, anh gặp tôi đang chơi một chiếc lốp xe ô tô cũ, thế là anh đặt tôi lên vai, rồi bảo hãy giữ lấy hai tai anh như thể đầu anh là tay lái ô-tô. Tôi còn nhớ niềm vui lên tận mây xanh của tôi khi tay anh đẩy bánh xe còn miệng anh thì làm tiếng gừ gừ của mô-tơ. Tôi nhớ cả mùi cơ thể anh. Một thứ mùi dai dẳng trộn lẫn mồ hôi và rau thối, cơ bắp và hơi thở. Một hình ảnh nữa, vào ngày cuối cùng của lễ Ramadan. Tối hôm trước, tôi rất hư và bị anh đánh đòn nên bây giờ cả hai chúng tôi đều ngại ngùng. Đó là ngày lễ tha thứ, anh coi như phải ôm hôn tôi nhưng tôi không muốn anh mất sĩ diện hay phải hạ mình xin lỗi tôi, ngay cả khi nhân danh Thượng đế tối cao. Tôi cũng nhớ biệt tài của anh khi bất động trên ngưỡng cửa nhà chúng tôi, nhìn về bức tường nhà hàng xóm, miệng hút thuốc, tay cầm tách cà phê đen mà mẹ tôi pha cho.

Cha chúng tôi đã mất tích trước đó rất lâu, nát vụn trong tiếng xì xào rằng người ta từng gặp ông ở Pháp, và mỗi anh Moussa có thể nghe thấy tiếng ông, anh kể cho chúng tôi những gì anh ấy đã nói với ông trong các giấc mơ của mình. Anh chỉ gặp lại ông có đúng một lần, nhưng xa đến nỗi mà anh ngờ là không phải. Ngay từ bé tôi đã có khả năng đoán được những ngày thiên hạ xì xào và những ngày không. Hôm nào Moussa nghe thấy người ta nói về cha chúng tôi là anh trở về chân tay bồn chồn, mắt bừng bừng như có lửa, thì thào nói chuyện với mẹ chúng tôi và cuối cùng bao giờ cũng kết thúc bởi những trận cãi nhau kinh hoàng…

Advertisements


Leave a comment

Patrick MODIANO – Nghệ thuật về ký ức

Giải Nobel Văn chương năm 2014 vừa được trao cho Patrick Modiano, nhà văn đương đại nổi tiếng của Pháp, 69 tuổi, tác giả của 27 tiểu thuyết, « bởi nghệ thuật về ký ức mà ông đã sử dụng để gợi lại những số phận con người vô cùng khó hiểu và nhân tình thế thái thời Đức tạm chiếm ».
Gương mặt chính yếu của văn chương đương đại Pháp với nhiều giải thưởng trong đó có Goncourt và Grand Prix của Viện Hàn Lâm Pháp, Modiano còn là một trong những tác giả được yêu mến nhất của độc giả Pháp bởi văn phong giản dị và trong sáng, đức tính khiêm tốn và thành thực, nhưng có lẽ trên hết bởi tài năng cùng tác phong nghiêm túc mà ông dành cho văn chương. Tiểu thuyết gia nổi tiếng chia sẻ rằng viết văn là một công việc “khó chịu”, “mệt mỏi và mất rất nhiều thời gian”. Và để tránh rơi vào “tình trạng bị nản lòng”, với ông không có cách gì hơn là ngồi viết mỗi ngày. Ông ví quá trình viết một cuốn sách như “mò mẫm lái một con tàu” trong sương mù, không biết đi về đâu, đôi khi biết là đã lạc hướng, nhưng không có quyền dừng. Bởi vì “dừng là sẽ bị nước cuốn trôi”.
Ngày 9/10, trước câu hỏi của nhà báo: “Giải Nobel sẽ mang lại cho ông rất nhiều tiền. Thế cuộc sống của ông sẽ có gì thay đổi không ?”, Modiano chân thành trả lời: “Thì vẫn thế thôi. Sống thì vẫn viết. Và mỗi khi viết thì khó nhọc vẫn hoàn khó nhọc…”modiano-patrick-8835-_paris-2007-olivier-roller

*Thời Đức tạm chiếm
Có thể coi khoảng 4 năm (từ 1940 đến 1944) khi nước Pháp bị quân đội Hít-le chiếm đóng là một nỗi hổ thẹn của lịch sử Pháp. Cho tới bây giờ nước Pháp vẫn còn bị dằn vặt bởi một thời kỳ đen tối đã khiến không ít những con người vốn hiền lành chấp nhận làm chỉ điểm cho phát xít, đẩy hàng nghìn thường dân gốc Do Thái vào các trại tập trung.
Modiano sinh năm 1945, khi Thế chiến II vừa kết thúc, tiếp theo là một tháng ngày lẻ loi, khắc dấu bởi sự vắng mặt thường xuyên của người mẹ diễn viên kịch nói, bởi cái chết rất sớm của người em trai duy nhất, bởi sự thuyên chuyển liên miên các trường nội trú, và có lẽ đặc biệt là bởi hành vi và tung tích bí ẩn của người cha gốc Do Thái. Nhưng sẽ rất vội vã khi cho rằng đó chính là lý do khiến Modiano quan tâm đến vấn đề Do Thái và thời Đức tạm chiếm như một cách giải mã cho cha. Nếu đọc Một tiền án (2005) – tiểu thuyết được coi là mang nhiều tính tiểu sử nhất của ông, ta sẽ nhận thấy sự khách quan của Modiano khi kể về cha mình – một nhà buôn đã kịp kiếm tiền tỉ trong chiến tranh nhờ những cú đầu cơ và những hoạt động mờ ám, người mà chàng trai trẻ đã quyết định cắt đứt liên lạc năm 17 tuổi, chấm dứt những cuộc cãi vã triền miên cùng những hẹn hò chớp nhoáng. Trong Modiano, ý thức chính trị và thế giới quan của người cầm bút được đặt ở vị trí cao hơn hẳn mối quan hệ cá nhân cha-con: “thời kỳ Đức tạm chiếm” trở thành một đề tài sáng tác với những tìm kiếm và thử nghiệm mang tính chất văn chương cùng dấu ấn của riêng ông. Ngay từ tiểu thuyết đầu tiên Quảng trường Ngôi sao được coi như « bản khai sinh của một nhà văn », ông đã không ngần ngại tấn công vào quá khứ dân tộc, làm thức dậy những kỷ niệm tưởng như đã được xếp gọn, những nỗi đau ngỡ như đã liền miệng.
Điều gì đã thực sự xảy ra trong thời Đức tạm chiếm?
Cái gì đã khiến con người biến dạng ?
Gần nửa thế kỷ nay, sáng tác của Modiano xoay quanh những câu hỏi đau đớn đó để mỗi tác phẩm lại đẩy ta sâu hơn nữa vào cõi u buồn của trí nhớ, vào chặng đường kỳ bí tìm lại quá khứ. Trong tiểu thuyết Dora Bruder (xuất bản năm 1997) kể lại cuộc điều tra kỳ lạ về một thiếu nữ Do Thái mất tích trong thời Đức chiếm đóng Paris, nhân vật/tác giả Modiano tự ví mình như « một thân cây mọc từ đống phân của thời Đức tạm chiếm» và phát biểu một cách chua chát: «Rất nhiều bạn bè mà tôi không quen đã ra đi vào năm 1945, năm tôi sinh ra trên đời này».

*Nghệ thuật về ký ức :
Có lẽ chúng ta đều phải công nhận rằng tuy không phải là một nhà văn vĩ đại, chủ nhân của giải Nobel Văn chương 2014 luôn tìm được những cách viết đẹp về ký ức. Với 27 tiểu thuyết được xuất bản đều đặn, cùng một dung lượng (trên dưới 150 trang), sự nghiệp của Modiano không có đỉnh cao, nhưng dường như đó không phải là mục đích của ông, cũng như ông cũng không có ý định dốc sức đặc biệt cho một tác phẩm nào, không ham muốn tạo dựng một trường phái gì. Các tác phẩm của ông đều là những hành trình tìm lại căn cước được kể bằng những cách khác nhau, luôn từ giản dị tới phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hiện thực tới hư cấu và bao giờ cũng tràn đầy tinh tế tỏa ra từ những câu văn giản dị, trong vắt, được sắp xếp trong một nhịp điệu dịu dàng. Mỗi câu văn là một « đơn vị » như ông định nghĩa, hay như một viên gạch góp phần xây nên một thế giới riêng, thế giới của Modiano như chúng ta đọc thấy, thế giới gồm những kỷ niệm mờ ảo, những hình ma, những tranh tối tranh sáng, những bóng người thoắt ẩn thoắt hiện, những nhân vật bỏ xứ ra đi, vất vưởng giữa đường đời, giữa bóng tối và ánh sáng, giữa cuộc sống trước mắt và dĩ vãng đã bị quên…
Một thám tử tư ở tuổi trung niên quyết định mở cuộc điều tra về căn cước của chính mình, bởi một tai nạn xảy ra từ lâu khiến anh ta chẳng còn nhớ gì về quá khứ. Một cô gái nhìn thấy một phụ nữ không quen trong tàu điện ngầm Paris và tin chắc rằng đó là mẹ của mình, người mà ngay từ bé cô được biết là đã qua đời. Một ông lục tuần hàng ngày không làm gì ngoài ngắm cây và đọc sách về thú rừng, một hôm vô tình tìm được sổ địa chỉ cũ và hy vọng từ đó lần ra manh mối của thời niên thiếu mà giờ đây không để lại dấu vết nào trong ký ức. Một cậu thanh niên bị tai nạn xe hơi, tỉnh dậy trong bệnh viện và nhớ lại tai nạn tượng tự từng xảy ra với cậu cùng những dữ kiện đã chìm nghỉm trong lãng quên suốt nhiều năm qua…
Như thế đấy, mỗi tác phẩm của Patrick Modiano là một hành trình kiếm tìm dẫn đến những cuộc gặp gỡ kỳ lạ, những tình huống bất ngờ, những sự việc khó tin, nhưng hoài nghi và phân vân… Nhưng kết quả như thế nào, căn cước cuối cùng có tìm được không, thì tác giả trích một câu của Stendhal để báo rằng: «Tôi không có khả năng đưa ra hiện thực của các sự việc, mà chỉ có thể mô tả cái bóng của chúng» (Để em không bị lạc trong khu phố ấy, 2014). Điều này thực ra cũng được ông khuyến cáo ngay từ một trong những tác phẩm đầu tay (Biệt thự buồn, 1975), thông qua câu thơ của Dylan Thomas : « Anh là ai, hỡi kẻ quan sát cái bóng? ». Quan hệ giữa cái thực và cái bóng còn được Modiano định nghĩa như sau: chất liệu tiểu sử chỉ có tác dụng khi nó « biến mất trong cái được tưởng tượng ra ». Vấn đề này có vẻ khớp với thổ lộ của ông trong một phỏng vấn về những bí mật của nghề viết: « Khởi điểm bao giờ cũng là một điều gì đó rất rõ ràng, không thuộc phạm vi của hư cấu. Một chi tiết. Hoặc một cảnh tượng. Một điều gì đó đã thực sự xảy ra. Một mẩu của hiện thực. Sau đó, tôi pha trộn những mảnh vụn có thực đó với những gì mà chúng có thể tạo nên. Và thế là trở thành một kiểu hư cấu.»

*Paris, vẻ đẹp điêu tàn
Lộng lẫy, kiêu sa, với tháp Eiffel, bảo tàng Louvre, quảng trường Vendôme – đó là Paris của du khách nước ngoài.
Rõ ràng, rành mạch, với cái nhìn tổng thể, phố nào ra phố đấy – đó là Paris chụp từ vệ tinh, Paris của Google map.
Paris của Modiano là Paris của tuổi thơ đơn độc với những cuộc bỏ nhà ra đi, những chuyến lang thang vật vờ. Paris của Modiano là Paris của một người trọn đời yêu Paris. Paris dân dã với những ngóc ngách lộn xộn, những quán cà phê bé nhỏ, những khách sạn rẻ tiền, những rạp chiếu bóng lỗi thời… Paris nguy hiểm với những đại lộ ngoại vi rầm rập xe và những địa chỉ ám muội… Paris khó hiểu với những tòa nhà có hai cửa thông ra hai phố : phố này thì tưng bừng ánh sáng, phố kia lại tăm tối âm u… Và Paris của thời Đức tạm chiếm với những khu Do Thái, trường nội trú Do Thái, trại tập trung Do Thái, cục an ninh phụ trách các vấn đề Do Thái, sở Nội vụ, phòng giam, doanh trại, đồn cảnh sát … Paris trở thành một địa điểm của tội ác và nhà văn trở thành thám tử. Đúng vậy, không chỉ các nhân vật của Modiano mới đặt cho mình câu hỏi «chúng ta là ai ? chúng ta từ đâu đến ? », cả Paris trong tác phẩm của ông cũng trăn trở với dĩ vãng u buồn…
Trong Một tiền án, Modiano viết : « tôi chỉ thật sự là tôi khi tôi lang thang một mình trên phố ». Phải chăng với ông, đối diện với Paris cũng đồng nghĩa với đối diện với lương tâm và ký ức?
_____________________
4 tiểu thuyết của Modiano đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản ở Việt Nam :
– Quảng trường Ngôi sao – Vũ Đình Phòng dịch
– Phố những cửa hiệu u tối – Dương Tường dịch
– Những đại lộ ngoại vi – Dương Tường dịch
– Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối – Trần Bạch Lan dịch.

(Bài đã đăng trong Tuổi Trẻ Cuối Tuần 17/10/2014)


Leave a comment

“NGÔN TỪ” (2) hồi ký Jean-Paul SARTRE

Tôi ngoan ngoãn cho phép người ta đi giày cho tôi, nhỏ thuốc mũi cho tôi, chải tóc cho tôi, tắm rửa cho tôi, mặc quần áo và cởi quần áo cho tôi, chải chuốt, vuốt ve tôi; tôi chẳng biết cái gì hay ho hơn là đóng vai một đứa trẻ ngoan. Tôi không bao giờ khóc, cũng không cười, tôi không gây tiếng động; lên bốn, người ta dạy tôi nêm muối vào mứt hoa quả: tôi đồ rằng vì tình yêu khoa học hơn là tinh nghịch; dầu thế nào, đó là tội ác duy nhất mà tôi còn nhớ. Chủ nhật, hai người phụ nữ đó thỉnh thoảng đi lễ mi-sa ở nhà thờ, để nghe nhạc, một nghệ sĩ đàn ống nổi tiếng; cả bà ngoại tôi lẫn mẹ tôi đều không mộ đạo nhưng tín ngưỡng của những người khác đã khiến họ ngây ngất trong âm nhạc; họ tin vào Chúa trời vào lúc mê mải nghe một khúc tôcat… Những thời khắc của giá trị tinh tinh thần cao cả đó mang lại cho tôi vui thú : tất cả mọi người đều có vẻ như đang ngủ, đó là lúc có thể khoe ra điều mà tôi biết làm : quì trên ghế cầu kinh, tôi hóa tượng ; không được động đậy ngay cả một ngón chân ; tôi nhìn thẳng về phía trước, không chớp mắt, cho tới khi nước mắt chảy dài trên má ; theo lẽ tự nhiên tôi sẽ phải chiến đấu kinh hoàng để chống lại cảm giác kiến bò, nhưng tôi tin là tôi sẽ thắng, tôi ý thức được sức mạnh của mình đến độ không ngần ngại khêu gợi trong mình nỗi ham muốn tội lỗi là ban cho mình niềm vui sướng bằng cách đẩy những người kia ngã nhào ra : nếu tôi đứng lên và kêu « bùm » ? nếu tôi trèo lên cột nhà thờ và đái vào âu nước thánh ? Nhưng chút nữa, những khêu gợi khủng khiếp đó sẽ thích thú những lời chúc mừng của mẹ tôi hơn. Tôi nói dối ; tôi giả vờ mệt chết đi được để làm tăng vinh quang : chưa giây phút nào, sự cám dỗ đã tỏ ra thái quá cả ; tôi quá sợ tai tiếng ; nếu tôi muốn gây ngạc nhiên thì cũng bởi tính ngoan ngoãn của tôi. Những chiến thắng dễ dàng này khiến tôi tin rằng tôi sở hữu một bản tính tốt ; tôi chỉ cần cứ đi theo hướng đó là người ta đổ dồn vào tôi những lời ngợi ca. Nhưng ham muốn xấu xa và những suy nghĩ tồi tệ, nếu có, đều đến từ bên ngoài ; vừa vào tới tôi, chúng đã mất sức sống và úa mòn : tôi là một mảnh đất không hợp với cái ác. Ngoan ngoãn một cách đóng kịch, tôi không bao giờ cố cũng không bao giờ cưỡng ép bản thân : tôi bịa đặt. Tôi có cái tự do sang trọng của tay diễn viên biết làm cho khán giả nín thở và quá tinh tế trong vai diễn của mình. Người ta yêu tôi quá, nên tôi vô cùng đáng yêu. Cái gì dễ hơn khi thế giới đã được làm đâu vào đấy rồi? Người ta bảo tôi đẹp trai và tôi tin như thế. Từ ít lâu, tôi bị một vảy cá ở mắt phải khiến sau này tôi sẽ chột và lác, nhưng chưa ai biết cả. Gia đình chụp cho tôi hàng trăm tấm ảnh và mẹ tôi dùng bút chì màu tô lên vảy cá đó. Trên một trong những tấm ảnh còn sót lại này, tôi hồng nhào, tóc vàng, với những lọn quăn, má tôi tròn căng và trong cái nhìn thể hiện một sự tôn kính nhã nhặn dành cho trật tự đã được thiết lập ; miệng phồng lên bởi một sự ngạo nghễ giả dối : tôi biết giá trị của mình.
Bản tính của tôi tốt vẫn chưa đủ, nó còn phải có khả năng tiên tri : chân lý được phát ra từ miệng trẻ con. Rất còn gần với thiên nhiên, trẻ con là những anh chị em họ của gió và biển : những tiếng ấp úng của chúng mang lại cho những ai có thể nghe được chúng những thông tin rộng và mơ hồ. Ông ngoại tôi đã vượt hồ Genève cùng Henri Bergson : « Tôi phát điên vì khoái, ông nói, tôi không đủ mắt mà ngắm hết những ngọn sóng sáng rực, để dõi theo những lấp lánh của mặt nước. Nhưng Bergson ngồi trên va-li nên không thôi nhìn mọi thứ giữa hai bàn chân ». Từ chuyến du lịch này ông kết luận rằng tâm tư thi vị thích hơn là triết học. Ông chuyển sự trầm ngâm sang tôi: ngồi trong vườn, trên một chiếc ghế vải gập, trong tay là một ly bia, ông nhìn tôi chạy nhảy, ông tìm minh triết trong những lời nói linh tinh của tôi, và ông đã tìm thấy. Sau này, tôi cười nhạo về sự điên khùng này ; bây giờ tôi tiếc là đã làm thế : đó là công việc của cái chết. Charles ông ngoại tôi đã chiến đấu với nỗi lo lắng ngất ngây. Ông khâm phục trong tôi tác phẩm tuyệt vời của trái đất để có thể tin chắc rằng mọi thứ đều tốt đẹp, ngay cả cái chết thảm thương của chúng ta. Thiên nhiên này chuẩn bị bắt ông về, ông sẽ tìm nó trên những ngọn sóng, những đợt sóng, giữa những ngôi sao, từ cuộc đời thơ trẻ của tôi, để có thể ôm hôn toàn bộ nó và chấp nhận tất cả cho tới khi một cái hố được đào cho ông ở chính trong đó. Đó không phải là Chân lý, đó là cái chết của ông đang nói với ông từ miệng của tôi. Chẳng có gì ngạc nhiên nếu niềm hạnh phúc nhạt nhẽo của những năm đầu đời tôi thỉnh thoảng có vị tang tóc : nhờ một cái chết đúng lúc mà tôi được tự do, nhờ một cái chết rất đúng qui luật mà tôi trở thành quan trọng. Nhưng : tất cả các nhà tiên tri đều chết, ai cũng biết vậy ; tất cả trẻ em đều là những cái gương phản chiếu cái chết.
Rồi ông ngoại tôi đâm ra thích trêu tức các con trai của ông. Người cha khủng khiếp này cả đời tìm cách nghiến nát họ ; họ rón rén bước vào và bắt gặp ông đang quì trước một thằng bé : thế là đủ tan nát trái tim họ. Trong cuộc chiến giữa các thế hệ, trẻ em và người già có một sự nghiệp chung : người này phán, người kia giải. Thiên nhiên nói còn trải nghiệm thì diễn dịch : người lớn chỉ việc khép nó lại nữa thôi. Nếu không có trẻ em, người ta lấy con cún : ở một nghĩa trang dành cho chó, vào năm ngoái, trong một bài phát biểu được truyền từ mộ này sang mộ kia, tôi nhận thấy những câu châm ngôn của ông ngoại tôi : loài chó biết yêu ; chúng dịu dàng hơn loài người, trung thành hơn ; chúng tế nhị và bản năng tuyệt vời của chúng cho phép chúng nhận biết đâu là cái Thiện, phân biệt ai tốt bụng, ai độc ác. « Polonius, một người đàn bà tuyệt vọng nói, con tốt hơn ta, mà con lại chết trước ta, ta vẫn tiếp tục sống. Một người bạn Mỹ đi cùng tôi : ông ta đã nổi giận, đá vào con chó bằng xi măng khiến nó gãy tai. Ông ta có lý : khi người ta yêu trẻ em và súc vật một cách thái quá, thì người ta đã yêu chúng để chống lại loài người.
Do vậy, tôi là một con cún của tương lai ; tôi tiên đoán được tương lai. Tôi nói ngôn lời của trẻ con, người ta nhớ, người ta nhắc lại chúng với tôi : tôi lại học để nói những từ khác. Tôi nói ngôn từ người lớn : tôi biết nói, mà không hiểu, những câu « già dặn hơn tuổi của mình ». Những câu này là những bài thơ ; công thức thật đơn giản: phải tin vào Quỷ giữ, một cách tình cờ, vào hư vô, mượn toàn bộ những câu nói của người lớn, nối chúng lại với nhau và nhắc lại mà không cần hiểu. Tóm lại, tôi phán như thánh và ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. Cái Thiện sinh ra tự đáy lòng tôi, cái Thật sinh ra ở bóng tối thơ trẻ của Lý trí tôi. Tôi không ngần ngại tôn thờ mình : thì ra những động tác và câu nói của tôi có những phẩm chất mà bản thân tôi cũng không hiểu nổi và chúng đập vào mắt người lớn. Chẳng sao cả ! tôi biếu họ toàn bộ niềm vui thú tinh tế không được dành cho tôi. Những câu nói hài hước mang vẻ ngoài của sự hào hiệp : vài người tội nghiệp lấy làm tiếc vì đã không có con; tôi mủi lòng và tôi rời khỏi hư vô một cách hăng hái đầy vị tha và tôi mặc lại bộ cải trang của trẻ con để cho họ ảo giác rằng họ có một cậu con trai. Mẹ tôi và bà ngoại tôi thường mời tôi lặp lại hành động nhân từ cao cả là đã sinh ra trên đời : hai người ca ngợi những thói kỳ quặc và sở thích của ông ngoại tôi là những cú đột ngột, rồi dành cho ông những bất ngờ. Hai người dấu tôi sau một đồ gỗ, tôi nín thở, hai người bỏ đi hay giả vờ quên tôi, tôi mệt nhoài ; ông ngoại tôi bước vào, chán chường và ủ ê, như thể ông sẽ như thế nếu không có tôi trên đời; đột nhiên tôi nhảy khỏi chỗ nấp, ban cho ông niềm vui sướng bằng cách bước vào đời ; ông nhìn thấy tôi, tham ra trò chơi này với tôi, thay đổi nét mặt và vung tay lên trời : tôi khiến ông tột cùng hạnh phúc bằng sự hiện diện của tôi. Chỉ một từ thôi, tôi tự sinh ra ; tôi tự sinh ra vào bất cứ lúc nào và ở khắp nơi, tôi phân phát tất cả : chỉ cần đẩy cửa là tôi có cảm giác xuất hiện trên đời. Tôi đặt những khối hình lên nhau, tôi tháo bánh cát ra khỏi khuôn, tôi kêu cứu ; ai đó chạy đến thốt lên, tôi sinh ra một kẻ hạnh phúc nữa. Bữa ăn, giấc ngủ và đề phòng thời tiết xấu đã trở thành những lễ chính và những nghĩa vụ chính của một cuộc sống đầy nghi lễ. Tôi ăn trước mặt mọi người như một ông vua : nếu tôi ăn khỏe, họ sẽ chúc mừng tôi ; bà tôi, chính bà tôi sẽ thốt lên : Thằng bé thật là ngoan vì đã đói !
Tôi không ngừng sáng chế ; tôi là kẻ cho và cũng là tặng vật. Nếu cha tôi còn sống, tôi sẽ biết quyền của tôi và trách nhiệm của tôi ; nhưng cha tôi đã mất và tôi không biết ; tôi không có quyền vì tôi được yêu quá ; tôi không có trách nhiệm vì tôi phân phát mọi thứ một cách thích thú. Mệnh lệnh duy nhất : làm vui lòng ; một cách phô trương. Trong gia đình tôi, sao mà có quá nhiều tấm lòng hào hiệp : ông ngoại tôi nuôi tôi còn tôi, tôi mang lại hạnh phúc cho ông ; mẹ tôi thì tận tụy với tất cả mọi người. Hôm nay, nhớ lại tôi có cảm giác lòng tận tụy đó là cái duy nhất có thật ; nhưng khi ấy chúng tôi có chiều hướng bỏ qua nó trong im lặng. Vấn đề gì đâu : cuộc sống của chúng tôi là một chuỗi nghi lễ và chúng tôi sử dụng thời gian vào việc đội lên đầu các loại ơn nghĩa. Tôi tôn trọng người lớn với điều kiện họ tôn thờ tôi ; tôi thẳng thắn, cởi mở và dịu dàng như con gái. Tôi hướng thiện, tôi tin tưởng vào người khác : ai cũng tốt vì ai cũng hài lòng. Tôi coi xã hội như chiếc thang phân chia chặt chẽ về công trạng và quyền lực. Những ai ở trên đỉnh phân chia tất cả những gì họ có cho những người ở bên dưới. Tuy vậy, tôi không xếp mình vào bậc cao nhất : tôi biết nó được dành cho những ai nghiêm khắc, có tâm, có khả năng chấn chỉnh xã hội. Tôi ngồi trên một chiếc ghế cao ngoài rìa, không xa họ, và hào quang của tôi lan ra khắp chiếc thang, từ cao xuống thấp. Tóm lại, tôi chăm chút để tách mình khỏi sức mạnh thế tục : không ở dưới, không ở trên, mà ở chỗ khác. Cháu của một giáo sĩ, ngay từ bé tôi đã là một giáo sĩ ; tôi có sự dịu dàng của các giáo chủ, sự hồn nhiên của các tăng lữ. Tôi đối xử với những kẻ dưới mình một cách bình đẳng : đó chính là sự lừa dối thành kính mà tôi tạo ra để họ được hạnh phúc và do vậy, họ cũng nên là những kẻ dễ lừa ở một mức độ nào đó. Với người hầu, với ông phát thư, với con chó của tôi, tôi đều nói với một giọng nhẫn nại và ôn hòa. Trong cái thế giới có trật tự này, có những người nghèo khổ. Có cả những con cừu năm cẳng, những đứa trẻ sinh đôi dính nhau, những tai nạn tàu hỏa : những bất bình thường đó không phải do lỗi của ai cả. Những người nghèo tốt bụng không biết rằng nhiệm vụ của họ là thử thách lòng hào hiệp của chúng ta ; đó là những kẻ nghèo đáng xấu hổ, họ phá tan những bức tường ; tôi lao tới, tôi ấn vào tay họ một đồng hai xu, và nhất là trao cho họ một nụ cười bình đẳng. Tôi thấy họ có vẻ ngu ngu và tôi không muốn chạm vào họ, nhưng tôi bắt tôi phải làm : đó là một thử thách ; và rồi họ cần phải yêu tôi : tình yêu này tô điểm cho cuộc sống của họ. Tôi biết họ thiếu cái cần thiết và tôi thích thú được là cái thừa ra của họ. Hơn thế, dù có nghèo khó đến thế nào thì họ cũng không bao giờ đau khổ bằng ông ngoại tôi : lúc còn nhỏ, ông phải dạy rất sớm và mặc quần áo trong bóng đêm ; vào mùa đông, để rửa ráy, ông phải đập đá trong bình đựng nước. May sao, từ đó đến nay, mọi thứ đã thay đổi : ông ngoại tôi tin tưởng ở Tiến bộ, tôi cũng vậy ; Tiến bộ, con đường gay go trắc trở đó đã đến được tận tôi.
Đó là Thiên đường. Mỗi sáng tôi thức dậy trong một niềm tê mê sung sướng, khâm phục sự may mắn khôn cùng là được sinh ra trong một gia đình hòa hợp nhất, trong một đất nước tươi đẹp nhất. Những ai không hài lòng đều khiến tôi căm phẫn : họ có thể phàn nàn về điều gì cơ chứ ? đó là những tên nổi loạn. Đặc biệt là bà ngoại tôi khiến tôi cực kỳ lo lắng : tôi đau đớn nhận thấy rằng bà không khâm phục tôi đúng mức. Trên thực tế, bà đã vạch trần tôi. Bà thẳng thừng khiển trách thói rởm trong con người tôi, điều mà bà không dám phàn nàn ở chồng. Tôi là một tên pha trò, một thằng hề, một thằng bé hay nhăn nhó, bà ra lệnh cho tôi phải chấm dứt những trò « nhõng nhẽo ». Tôi còn nổi giận hơn nữa vì tôi ngờ rằng bà cười cợt cả ông ngoại tôi : đó chính là « Tinh thần luôn phủ nhận ». Tôi đáp trả bà ; bà yêu cầu tôi phải xin lỗi ; tin chắc là được ông ngoại tôi ủng hộ nên tôi từ chối xin lỗi bà. Ông chụp lấy thời cơ để bày tỏ điểm yếu của mình, ông đứng về phía tôi chống lại vợ khiến bà giận dữ đứng phắt lên và vào phòng khóa chặt cửa lại. Mẹ tôi lo lắng vì sợ bà trả thù, nên nói nhỏ rằng ông đã sai, ông tôi nhún vai và bỏ vào phòng làm việc ; rồi mẹ tôi năn nỉ tôi đi xin lỗi bà. Tôi sung sướng về quyền lực của mình : tôi là thánh Michel và tôi đã quật ngã cả Quỉ sứ. Cuối cùng, tôi đi xin lỗi một cách lấy lệ. Ngoài chuyện này, tất nhiên là tôi vô cùng yêu quí bà : vì bà là bà của tôi. Mọi người gợi ý tôi gọi bà là « bà ngoại », gọi ông ngoại tôi là Karl như tên riêng theo vùng Alsace của ông. Karl và « bà ngoại » nghe hay hơn là Roméo và Juliet, hay Philémon và Baucis. Mẹ tôi ngày nào cũng nhắc lại cả trăm lần không phải không chủ ý : những từ « Karl-và-bà-ngoại đang đợi chúng ta, Karl-và-bà-ngoại rất hài lòng, Karl-và-bà-ngoại … » gợi lên, nhờ sự gắn kết mặt thiết của bốn từ, sự hòa hợp tuyệt vời giữa hai người. Tôi chỉ dễ lừa một nửa thôi, nhưng tôi sẽ thu xếp để tỏ ra dễ lừa hoàn toàn : đầu tiên là với chính tôi. Ngôn từ ném cái bóng của nó vào sự vật ; thông qua những từ « Karl-và-bà-ngoại », tôi có thể gìn giữ sự hòa hợp không tì vết của gia đình và chuyển vào đầu của bà ngoại tôi một phần lớn các công trạng của ông ngoại tôi. Bị nghi ngờ và cũng ý thức được tội của mình, bà ngoại tôi lúc nào cũng suýt phạm tội, nhưng được ngăn lại bởi cánh tay của các thiên thần và bởi quyền lực của một từ gọi là Tự do.
Có những kẻ độc ác : bọn người Prussiens mà đã chiếm của chúng tôi vùng Alsace-Lorraine cùng tất cả các đồng hồ của gia đình, trừ chiếc đồng hồ quả lắc bằng đá cẩm thạch đen đang trang trí lò sưởi trong phòng ông ngoại tôi và cũng chính là quà tặng cho ông từ đám học trò người Đức ; chúng tôi tự hỏi họ đã ăn cắp được ở đâu. Gia đình mua cho tôi những cuốn sách của Hansi, cho tôi xem những hình ảnh trong đó : tôi chẳng thấy ghét chút nào những thằng người béo tốt bằng đường hồng rất giống với các ông cậu gốc Alsace của tôi. Ông ngoại tôi, đã chọn nước Pháp vào năm 1871, thỉnh thoảng cũng đi Gunsbach, Pfaffenhofen, để thăm những người đã chọn nước Đức. Cả nhà cho tôi đi cùng. Trên tàu khi ông lái tàu người Đức kiểm tra vé của ông, trong quán cà phê khi người bồi bàn chậm đến phục vụ, Charles Schweitzer ông ngoại tôi đỏ mặt tía tai trong cơn giận đầy vị ái quốc ; bà ngoại tôi và mẹ tôi giữ chặt lấy hai tay ông : « Charles ! ông không nghĩ tới điều đó sao ? Họ sẽ đuổi chúng ta ra khỏi đây và ông sẽ bị lôi đi trước ! » Ông ngoại tôi cao giọng : « Tôi rất muốn xem chúng đuổi chúng ta như thế nào : tôi đang ở trên đất nước của tôi ! » Bà tôi và mẹ tôi ủn vào chân tôi, tôi nhìn ông van nài và ông dịu đi : « Thôi thì cũng nghĩ cho thằng cháu ngoại », vừa thở dài vừa xát vào tóc tôi bằng những ngón tay khô cằn. Những cảnh này khiến tôi khó chịu với ông chứ không làm tôi nổi giận với những kẻ xâm lược. Ngoài ra, ở Gunsbach, ông ngoại tôi cũng không thiếu dịp quá lời với bà chị dâu của ông ; mỗi tuần mấy lần ông ném khăn ăn lên bàn và rời khỏi phòng ăn đập cửa rầm một cái : mà bà chị dâu đâu phải người Đức. Sau bữa ăn, bà ngoại tôi, mẹ tôi và tôi chạy lại kêu gào và thút thít cạnh chân ông, ông ngạo nghễ chống lại. Làm sao có thể không đồng ý với bản án của bà ngoại tôi : « Alsace có nghĩa gì với ông ấy đâu ; ông ấy không nên quay lại suốt như thế » ? Hơn nữa tôi cũng không thích những người Alsace đối xử với tôi thiếu tôn trọng, và tôi cũng chẳng cáu giận gì vì người Đức đã lấy mất vùng đất ấy của chúng tôi. Dường như tôi hay đến cửa hàng bán thực phẩm khô của ông Blumenfeld ở thị trấn Pfaffenhofen và làm phiền ông ấy về những thứ đâu đâu. Dì Caroline đã khiến mẹ tôi « suy nghĩ » ; hai người đã nói với tôi điều đó ; một lần duy nhất, bà ngoại tôi và tôi ủng hộ nhau : bà căm ghét gia đình chồng. Ở Strasbourg, từ một phòng khách sạn nơi chúng tôi đang tụ tập, tôi nghe thấy những tiếng động lảnh lót và lan tỏa như trên mặt trăng, tôi chạy ra cửa sổ ; đó là quân đội ! Tôi thật sung sướng được xem dân Prousse duyệt binh trong tiếng nhạc ngây thơ ấy, tôi đập tay theo. Ông tôi ngồi ở ghế và càu nhàu ; bà tôi tới nói nhỏ vào tai tôi là tôi phải rời cửa sổ ngay lập tức. Tôi nghe lời và dỗi hờn một chút. Tôi ghét người Đức, tất nhiên, nhưng ghét lấy lệ. Tuy vậy, ông ngoại tôi chỉ cho phép mình một chút gọi là tinh thần nước lớn : năm 1911 chúng tôi rời ngoại ô Meudon về sống ở Paris, số 1 phố Le Goff ; ông phải về hưu và để nuôi sống cả gia đình, đã phải thành lập « Viện sinh ngữ » : dậy tiếng Pháp cho người ngoại quốc qua Paris ngắn ngày. Theo phương pháp trực tiếp. Học viên chủ yếu đến từ nước Đức. Họ trả khá tiền : ông cất những đồng tiền vàng vào túi áo vét mà chẳng đếm trước ; bà ngoại tôi, bị bệnh mất ngủ, lẩn vào phòng đựng áo khoác để « trộm » tiền của ông như chính bà đã thổ lộ với con gái : tóm lại, chính kẻ thù đang nuôi sống chúng tôi ; một cuộc chiến tranh Pháp-Đức sẽ trả lại cho chúng tôi vùng Alsace và phá tan Viện sinh ngữ : Charles ông ngoại tôi đứng về phe duy trì hòa bình. Và rồi có những người Đức tốt bụng đến ăn trưa ở nhà chúng tôi : một nữ tiểu thuyết gia mặt đỏ và đầy lông lá mà bà ngoại tôi vừa cười ghen tức vừa gọi là « người tình của Charles », một ông bác sĩ hói đầu đẩy mẹ tôi vào tường để đòi hôn ; khi mẹ tôi ngượng nghịu phàn nàn, ông ngoại tôi nổi nóng : « Các người làm tôi bất hòa với tất cả! ». Rồi ông nhướn mày, kết luận : « Con nói càn rồi, con gái ạ », và chính mẹ tôi lại cảm thấy có lỗi. Tất cả các vị khách mời này đều hiểu rằng họ phải tỏ ra khâm phục các phẩm chất của tôi, họ ngoan ngoãn âu yếm tôi : chính vì thế mà mặc dù là người Đức, họ vẫn sở hữu một khái niệm lờ mờ của cái Thiện. Vào dịp lễ sinh nhật của Viện sinh ngữ, có khoảng hơn một trăm khách mời, với đồ uống pha sâm banh, mẹ tôi và cô Moutet chơi nhạc của Bach bằng bốn tay ; mặc váy trong suốt màu xanh, tóc gắn những ngôi sao nhỏ, tay đeo cánh, tôi đi từ người này sang người kia, tay cầm làn đựng quít phân phát cho mọi người, và ai nấy kêu lên : « Đúng là một thiên thần ! » Thế đấy, họ cũng không phải những kẻ xấu xa lắm. Đương nhiên, chúng tôi không từ bỏ cuộc trả thù cho vùng Alsace đã tử vì đạo: trong gia đình, bằng một giọng thì thầm, như các người anh em họ của chúng tôi ở Gunsbach và Pfaffenbofen, chúng tôi giết người Đức bằng trò chế giễu ; chúng tôi cười trăm lần liền, không mệt mỏi, về một nữ học viên vừa mới viết trong một bài luận bằng tiếng Pháp như sau : « Charlotte đau đớn đến đờ đẫn trên mộ của Werther», về một ông giáo trẻ, trong một bữa tối, đã ngờ vực nhìn lát dưa vàng rồi cuối cùng ăn hết cả lát, từ hạt đến vỏ. Những lầm lẫn này khiến tôi quay về hướng bao dung : người Đức là những kẻ thấp kém nhưng có may mắn là ở ngay cạnh chúng ta ; chúng ta đã cho họ ánh sáng của mình.
Một nụ hôn không ria mép, lúc đó người ta ví, như một quả trứng không muối ; tôi nói thêm : và như là cái Thiện thiếu cái Ác, như cuộc sống của tôi vào những năm 1905-1914. Nếu người ta chỉ tự định nghĩa mình bằng cách chống đối, thì tôi là cái vô hạn làm từ xương và thịt ; nếu tình yêu và hận thù là mặt phải và mặt trái của tấm huân chương, thì tôi chẳng yêu ai, cũng chẳng yêu cái gì. Cũng đúng thôi : ta không thể yêu cầu cùng một lúc vừa căm ghét vừa làm vui lòng. Hay vừa được yêu lại vừa yêu.

Vậy tôi có phải là kẻ si mê bản thân ? Ồ không : quá lo lắng tìm cách quyến rũ người khác, tôi quên chính tôi. Tóm lại, tôi không thích cho lắm trò làm bánh cát hay vẽ nghệch ngoạc, nhu cầu tự nhiên của tôi là : để cho chúng có giá trị dưới mắt mình, tôi cần ít ra là một người lớn khâm phục những trò này của tôi. May mắn làm sao, những tràng vỗ tay không bao giờ thiếu : dù họ nghe tôi ba hoa về những bản nhạc fuga, người lớn đều nở cùng một nụ cười nghịch ngợm và thông đồng ; điều ấy cho thấy rằng tôi có bề sâu : một của cải mang tính văn hóa. Văn hóa thấm vào tôi và tôi trả nó lại cho gia đình tôi bằng hào quang, giống như những ao nước ban đêm trả lại sức nóng của ban ngày…


Leave a comment

“NGÔN TỪ” (1) Hồi ký Jean-Paul SARTRE

Ở vùng Alsace, khoảng năm 1850, một giáo viên tiểu học để nuôi một đàn con đành chấp nhận làm nghề bán thực phẩm khô. Ông thầy bỏ nghiệp đó mong muốn một phần thưởng : vì ông đã từ bỏ công việc đào tạo các tinh thần, nên một trong các con trai của ông sẽ đào tạo các tâm hồn ; trong nhà ông sẽ có một mục sư, và đó sẽ là Charles. Nhưng Charles ăn trộm tiền, thích lang thang theo đuổi một nàng kỵ sĩ hơn. Người ta bèn úp ảnh hắn vào tường và cấm không được nói đến tên hắn. Đến lượt ai bây giờ ? Auguste vội vã bắt chước sự hy sinh của cha : cậu theo nghề buôn bán và cảm thấy rất dễ chịu. Còn lại Louis, nó chẳng có thiên hướng nào đặc biệt : ông bố tóm lấy thằng bé trầm tính này và nhoáy một cái biến nó thành mục sư. Sau này, Louis đẩy cao sự phục tùng đến độ cho ra đời một mục sư nữa, Albert Schweitzer, mà chúng ta đã biết rõ sự nghiệp. Tuy vậy, Charles đã không tìm thấy nàng kỵ sĩ ; hành động đẹp đẽ của người cha đã khiến hắn nhớ mãi : cả đời hắn, hắn giữ mãi mùi vị của sự cao thượng và hăng hái tạo ra những hoàn cảnh lớn với những sự kiện nhỏ. Như chúng ta thấy, hắn không tìm cách lẩn tránh thiên hướng của gia đình ; hắn mong muốn dâng hiến đời mình cho một hình thức nhẹ nhàng hơn của giá trị tinh thần, một nghề nghiệp cho phép hắn có những nàng kỵ sĩ. Nghề nhà giáo thật là hợp : Charles chọn nghề dạy tiếng Đức. Hắn bảo vệ luận án về Hans Sachs, lựa chọn phương pháp trực tiếp mà sau này hắn tự nhận là người phát minh ra, xuất bản, cùng với sự hợp tác của Simonnot, một cuốn Deutsches Lesebuch được đánh giá cao, và làm một sự nghiệp nhanh gọn : Mâcon, Lyon, Paris. Ở Paris, vào dịp trao giải thưởng, hắn đọc một bài phát biểu đã vinh dự được giành cho hẳn một số báo : « Thưa ngài Bộ trưởng, thưa các ông, các bà, các học trò thân mến, quí vị sẽ không bao giờ đoán nổi hôm nay tôi sẽ nói gì với quí vị ! Tôi sẽ nói với quí vị về âm nhạc ! » Hắn rất giỏi nảy thơ tại chỗ. Hắn có thói quen nói trong các cuộc họp gia đình : «Louis hiếu thảo nhất, Auguste giàu nhất, tôi thì thông minh nhất». Các anh em trai cùng cười, còn các chị em dâu thì mím môi. Ở Mâcon, Charles Schweitzer cưới Louise Guillemin, con gái của một nhân viên quan tòa theo đạo thiên chúa. Nàng ghét cay ghét đắng chuyến trăng mật của họ: Charles đã bắt cóc nàng trước khi bữa ăn kết thúc và ném nàng lên tàu. Ở tuổi 70, Louise vẫn còn kể về món xà lách tỏi tây mà họ đã ăn trong một quán nhỏ ở ga : « Lão ấy ăn hết phần trắng, để lại cho tôi phần xanh ». Họ đã ở Alsace, nhà cha của Charles, mười lăm ngày liền mà không rời bàn ăn ; các anh em trai kể cho nhau nghe bằng thổ ngữ những câu chuyện tục tĩu, thỉnh thoảng mục sư quay về phía Louise và với một lòng tương ái kiểu Cơ Đốc dịch cho nàng nghe. Nàng đã nhanh chóng tìm cách lấy được chứng nhận về sự thỏa mãn và nhờ đó mà được miễn thực hiện hợp đồng giường chiếu vợ chồng và có quyền ngủ riêng phòng; nàng nói về chứng đau đầu, thường xuyên nằm liệt giường và bắt đầu ghét tiếng động, thói dâm dục, sự phấn khích, toàn bộ cuộc sống no nê và giả dối của gia đình Schweitzer. Người phụ nữ sống động và tinh nghịch nhưng lạnh lùng này suy nghĩ thẳng thắn nhưng trái đạo, bởi vì chồng nàng suy nghĩ đúng đạo nhưng vẹo vọ ; vì hắn là một tên nói dối nhưng cả tin, còn nàng, nàng nghi ngờ mọi thứ : «Họ khẳng định là trái đất quay, nhưng họ biết gì về điều ấy?». Bao vây bởi những diễn viên kịch đầy đạo đức, nàng thù ghét kịch và đạo đức. Con người theo chủ nghĩa hiện thực rất thanh tao này, lạc lối trong một gia đình gồm những người theo nghĩa duy linh thô lậu, vì thách thức mà nàng làm ra vẻ theo tinh thần của Voltaire nhưng lại không đọc Voltaire. Dễ thương và mũm mĩm, vô đạo, hồn nhiên, nàng đã trở thành một thứ tiêu cực trong trắng ; bằng một cái nhếch mày, một nụ cười khó nhận thấy, nàng coi khinh tất cả những thái độ trịnh thượng, dấu trong lòng để không ai phát hiện. Nàng bị giày vò bởi tính kiêu ngạo tiêu cực và sự ích kỷ khi chối từ. Nàng không gặp gỡ ai, quá kiêu hãnh để đòi vị trí thứ nhất, nhưng lại quá viển vông để đành lòng với vị trí thứ hai. «Hãy biết cách để khiến người khác thèm muốn mình» , nàng nói. Đầu tiên người ta thèm muốn nàng rất nhiều, rồi dần dần ít đi, và cuối cùng do không gặp nàng, nên họ quên nàng. Nàng hầu như không còn rời ghế bành và giường ngủ. Tự nhiên chủ nghĩa nhưng lại rất nguyên tắc về mặt đạo đức – sự kết hợp của hai đức tính hóa ra không hiếm như người ta tưởng – gia đình Schweitzer thích những ngôn từ sống sượng, những loại từ mà tuy hạ thấp cơ thể con người một cách rất đúng tinh thần đạo Cơ Đốc, nhưng lại tỏ ra hoàn toàn đồng ý với các chức năng bẩm sinh; Louise thì lại thích những ngôn từ ngầm. Nàng đọc rất nhiều tiểu thuyết phóng đãng mà nàng không thích tình tiết cốt truyện bằng những tấm mạng bao bọc nó: «Rất can đảm, viết tốt, nàng nói với vẻ tinh tế. Hãy trượt vào, tuyệt vời, đừng ấn!» Thiếu phụ trinh trắng này nghĩ là nàng có thể chết vì cười khi đọc «Cô gái rực lửa» của Adolphe Belot. Nàng thích thú kể lại những câu chuyện về tuần trăng mật bao giờ cũng kết thúc tồi : khi thì anh chồng, trong cơn vội vàng quá đáng, đập cổ vợ vào thành giường chỗ ; khi thì, chính cô vợ trẻ mà người ta tìm thấy sáng hôm sau, đang trốn trong tủ quần áo, trần truồng và hóa điên. Louise sống trong ánh sáng mờ mờ ; Charles vào phòng nàng, mở cửa chớp ra, bật tất cả các đèn, nàng rít lên và đưa tay che mắt : « Charles, anh làm tôi lóa mắt ! » Nhưng sự kháng cự của nàng không vượt qua giới hạn của một chống đối mang tính lập hiến : Charles đã khơi cho nàng sợ hãi, một tức tối kinh hoàng, đôi khi một chút tình bạn, miễn là đừng động tới người nàng. Nàng chịu thua hết mỗi khi hắn mở miệng kêu gào. Hắn cho nàng bốn đứa con một cách bất ngờ : một đứa con gái mất từ lúc nhỏ, hai cậu con trai và một đứa con gái nữa. Do thờ ơ hoặc do tôn trọng, hắn cho phép người ta nuôi dậy chúng theo tinh thần của đạo Thiên Chúa. Vô thần, và ghét đạo Tin Lành, Louise đã biến chúng thành những kẻ sùng đạo Thiên Chúa. Hai cậu con trai đứng về phía mẹ ; nàng dần dần tách chúng khỏi ông bố cồng kềnh ; Charles thậm chí không hay biết gì về điều này. Cậu con trai cả, Georges, vào học đại học Bách Khoa ; cậu thứ hai, Emile, thành giáo viên tiếng Đức. Cậu này khiến tôi tò mò : tôi biết rằng cậu cả đời độc thân, nhưng tôi cũng biết là cái gì cậu cũng bắt chước cha cậu tuy chẳng yêu cha. Cha và con sau đó giận nhau ; rồi lại có những cuộc làm lành đáng ghi nhớ. Emile giấu kín cuộc đời mình; cậu rất yêu mẹ, và cho đến cuối đời vẫn giữ thói quen đến thăm mẹ một cách không báo trước và lén lút ; cậu phủ lên mẹ những nụ hôn và những cái vuốt ve, rồi bắt đầu nói chuyện về bố, đầu tiên là mỉa mai, tiếp theo là nổi giận và rời khỏi nhà mẹ đóng sầm cửa lại. Louise yêu con trai, tôi tin vậy, nhưng cậu làm nàng sợ : hai người đàn ông thô lỗ và khó tính khiến nàng mệt mỏi và nàng thấy yêu Georges hơn, cậu này chẳng bao giờ có mặt ở nhà cả. Emile mất năm 1927, phát điên vì cô độc : người ta tìm thấy một khẩu súng lục dưới gối của cậu, một trăm đôi tất rách và hai mươi đôi giày đi ở nhà đã vẹt gót trong những cái rương.

Anne-Marie, cô con gái út, trải cả tuổi thơ trên một cái ghế. Người ta dạy cô biết buồn chán, biết đứng thẳng người và biết may. Cô có một số năng khiếu : người ta tin là cứ để hoang chúng thì mới là tao nhã ; về những gì lấp lánh : người ta cẩn thận tìm cách dấu cô. Những thị dân khiêm tốn và kiêu hãnh này đánh giá sắc đẹp cao hơn khả năng tài chính của họ hoặc thấp hơn điều kiện mà họ có ; họ cho phép cô gặp gỡ những người đàn bà làm bộ cao sang và cả bọn gái điếm. Louise có một nỗi kiêu ngạo cằn cỗi nhất trên đời : sợ bị lừa, nàng phủ nhận ở con cái, chồng và cả bản thân những đức tính hiển nhiên nhất ; Charles không biết nhận thức vẻ đẹp của người khác : hắn nhầm nó với sức khỏe : từ khi vợ bị bệnh, hắn giải khuây với bọn đàn bà theo chủ nghĩa duy tâm, có ria và nhuộm tóc, mạnh khỏe. Năm chục năm sau, lần giở những trang album của gia đình, Anne-Marie nhận ra rằng mình đã từng đẹp.

Gần vào thời điểm mà Charles Schweitzer gặp Louise Guillemin, một đốc tờ nông thôn kết hôn cùng con gái một điền chủ giàu có vùng Périgord và đến ở cùng vợ trong con phố chính buồn bã của thị trấn Thiviers, đối diện với hiệu thuốc. Sau đám cưới một hôm, người ta phát hiện ra rằng ông bố vợ chẳng có xu nào. Giận dữ, đốc tờ Sartre bốn mươi năm liền không nói chuyện với vợ ; ở bàn ăn cơm, ông chỉ ra dấu, cuối cùng bà đành gọi ông là « khách trọ ». Ông ngủ cùng giường với bà, và, thỉnh thoàng, chẳng nói năng gì, làm bà có chửa : bà cho ông hai con trai và một con gái ; những đứa trẻ sinh ra từ sự lặng câm này có tên là Jean-Bastsiste, Joseph và Hélène. Lớn lên, Hélène lấy một sỹ quan kỵ binh, người này sau đó bị bệnh điên. Joseph đi nghĩa vụ trong lính bộ binh ở Algeria và nhanh chóng rút về nhà cha mẹ. Anh ta không có nghề ngỗng gì : giằng xé giữa tính nín lặng của mẹ và sự eo sèo của cha, anh ta trở thành kẻ nói lắp và chiến đấu suốt đời với ngôn từ. Còn Jean-Batiste thì muốn vào hải quân để thấy biển. Năm 1904, ở Cherbourg, là sĩ quan hải quân và đã bị kiệt quệ bởi các cơn sốt có từ hồi ở Nam kỳ Đông Dương, anh ta làm quen với Anne-Marie Schweitzer, chiếm được cô thiếu nữ bị lãng quên trong gia đình, cưới nàng làm vợ, chớp nhoáng cho nàng một đứa con, tức là tôi, và toan trốn mình vào cái chết.

Nhưng chết đâu có dễ : cơn sốt kiết lị không vội giâng cao, bệnh thuyên giảm. Anne-Marie hết lòng chăm sóc chồng, nhưng không đẩy sự gần gũi sỗ sàng thành tình yêu với anh ta. Trước đấy, Louise đã gây cho anh ta mối ác cảm về cuộc sống hôn nhân : tiếp theo đám cưới bị phản đối kịch liệt, là một chuỗi dài hy sinh vô tận bị cắt rời bởi những sự tục tĩu hàng đêm. Theo gương bà ngoại tôi, mẹ tôi thích nhiệm vụ hơn là khoái cảm. Mẹ tôi không biết cha tôi mấy, trước cũng như sau khi lấy ông, và hẳn là đôi khi cũng tự hỏi lý do gì mà con người xa lạ đó lại chọn để chết trong vòng tay của mình. Người ta đã chuyển ông đến một trại lính canh cách thị trấn Thiviers mấy dặm. Cha của ông hàng ngày tới thăm ông bằng xe bò. Chăm sóc và lo lắng đã hết sức lực của Anne-Marie, sữa mẹ tôi cạn, người ta giao tôi cho một người bảo mẫu không xa nhà lắm, và tôi, tôi cũng hợp với chết : vì viêm ruột non, hoặc có thể là vì oán giận. Hai mươi tuổi, không kinh nghiệm, không lời khuyên, mẹ tôi tan tác giữa hai kẻ sắp chết xa lạ ; đám cưới đầy lý trí của mẹ tôi tìm thấy sự thật trong bệnh tật và tang tóc. Còn tôi, tôi lợi dụng tình thế ấy : thời đó, các bà mẹ tự cho con bú rất lâu ; không có cái may mắn được hấp hối hai lần, tôi chuốc lấy những khổ cực của một vụ cai sữa muộn màng. Ốm đau quặt quẹo, bị ép cai sữa lúc 9 tháng, sốt cao và mụ mẫm đã ngăn cản tôi cảm thấy nhát kéo cuối cùng cắt đi mối quan hệ mẫu tử ; tôi như bơi trong một thế giới hỗn loạn, đầy những ảo giác giản đơn và những thần tượng thô lậu. Cha tôi qua đời, mẹ tôi và tôi cùng thức dậy bởi một cơn ác mộng chung ; tôi khỏi bệnh. Nhưng chúng tôi đều là nạn nhận của một sự hiểu lầm : bà hạnh phúc tìm lại một thằng con mà bà chưa từng thật sự rời bỏ; tôi tỉnh lại trên đầu gối của một người đàn bà xa lạ.

Không tiền, chẳng nghề, Anne-Marie mẹ tôi quyết định quay lại sống ở nhà ông bà ngoại tôi. Nhưng cái chết trêu ngươi của cha tôi đã làm mếch lòng gia đình Schweitzer : như thể ông đã bỏ mẹ tôi. Vì đã không biết dự báo cũng như cảnh báo, mẹ tôi đâm mang tiếng là có tội : đã dại dột lấy phải một thằng chồng không bền. Mẹ tôi cho rằng trước khi mẹ tôi ôm con quay lại Meudon, cả gia đình bên mẹ tôi đều hoàn hảo : trước đó, ông ngoại tôi đã xin nghỉ hưu nhưng sau đó lại quay trở về với công việc không một lời oán trách ; còn bà ngoại tôi thì đã kín đáo chiến thắng. Nhưng mẹ tôi, tuy đờ đẫn vì biết ơn, vẫn đoán ra sự khiển trách dưới những đối xử tốt đẹp: đương nhiên, cha mẹ nào cũng thích con gái bị góa bụa hơn là con gái không chồng mà có con, chính xác là như vậy. Để được họ tha thứ, mẹ tôi đã tiêu sài không tính toán, chăm sóc ngôi nhà của cha mẹ ở Meudon, rồi ở Paris, biến mình thành quản gia, y tá, bếp trưởng, nữ tùy tùng, nô tì, mà không tài nào làm nguôi đi nỗi tức tối câm lặng của bà ngoại tôi. Louise bà ngoại tôi chán ngấy việc sáng lên thực đơn, tối tính toán chi tiêu, nhưng lại khó khăn chấp nhận người khác làm thay mình ; bà vừa trút bỏ trách nhiệm, vừa cáu kỉnh vì bị mất đặc quyền. Người phụ nữ đang già đi và vô sỉ này chỉ có một ảo tưởng : bà tự tin là người tối cần thiết. Ảo tưởng tiêu tan và bà bắt đầu ghen với con gái. Thật khổ thân Louise mẹ tôi : khi mẹ thụ động, người ta đã buộc tội mẹ là gánh nặng cho họ ; khi mẹ tích cực, họ nghi mẹ muốn cai quản cái nhà này. Để tránh vỉa đá ngầm đầu tiên, mẹ cần toàn bộ lòng dũng cảm, để tránh vỉa đá ngầm thứ hai, mẹ cần toàn bộ sự nhún nhường. Chẳng bao lâu, góa phụ trẻ quay trở lại làm đứa con vị thành niên : một trinh nữ không tì vết. Không phải họ từ chối tiền tiêu vặt của mẹ, mà họ quên đưa cho mẹ ; mẹ dùng mòn cả tủ quần áo mà ông ngoại tôi vẫn tính đến chuyện mua thêm cho mẹ. Người ta hầu như không chịu nổi việc mẹ đi chơi một mình. Khi các bạn cũ của mẹ, hầu như đã có gia đình, mời mẹ đến nhà ăn tối, họ đều phải năn nỉ rất lâu và xin phép trước, cũng như phải hứa là sẽ đưa mẹ về nhà trước mười giờ. Giữa bữa ăn, chủ nhà đứng dậy rời khỏi bàn để dẫn mẹ ra ô tô. Trong lúc đó, ông ngoại tôi mặc áo ngủ bước từng bước dài trong phòng, tay cầm đồng hồ. Đúng đến tiếng gõ cuối cùng của mười giờ, ông gầm lên. Những lời mời ngày càng hiếm và mẹ tôi phát ớn lên vì những niềm sung sướng phải trả giá đắt như thế.
Cái chết của Jean-Baptiste cha tôi là một sự kiện lớn trong đời tôi : nó trả lại cho mẹ tôi sợi dây xiềng xích và trao cho tôi sự tự do.
Không có người cha tốt, qui luật thế rồi ; hãy đừng kêu ca đàn ông mà hãy trách móc mối quan hệ phụ tử đã thối rữa. Đẻ con, không có gì hay hơn thế ; nhưng có con, ôi lo lắng làm sao ! Nếu còn sống thì cha tôi sẽ nằm lên lưng tôi và sẽ nghiến nát tôi. May thay, ông đã mất khi tôi còn quá nhỏ ; ở giữa những đứa con Enée cõng trên lưng các ông bố Anchise, tôi đi từ bờ này tới bờ kia, đơn độc và căm ghét những bậc sinh thành vô hình ngồi suốt đời trên lưng những đứa con của mình ; tôi để lại phía sau một thanh niên chết trẻ không có đủ thời gian để trở thành cha tôi và ngày hôm nay có thể là con trai tôi. Đó là điều tốt hay điều xấu ? Tôi không biết, nhưng tôi sẵn sàng ký vào bản tuyên án của một nhà phân tâm học lỗi lạc : tôi không có ai-trên-lưng.
Chết không phải là tất cả : phải chết đúng lúc. Sau này, tôi tự cảm thấy có tội ; một đứa trẻ mồ côi có ý thức mắc khuyết điểm : bực mình vì phải nhìn thấy nó, cha mẹ nó đã rút vào chỗ ở của họ trên trời cao. Tôi thì tôi vô cùng sung sướng : hoàn cảnh đáng buồn của tôi khiến người khác phải kính nể, lập nên sự quan trọng của tôi ; tôi liệt sự tang tóc của tôi vào số những may mắn tôi có. Cha tôi đã có nhã ý chết do lỗi của ông : bà ngoại tôi nhắc đi nhắc lại rằng cha tôi đã lẩn tránh trách nhiệm của mình ; ông ngoại tôi, chính vì kiêu hãnh với truyền thống trường thọ trong gia đình Schweitzer nên không cho phép người khác qua đời ở tuổi ba mươi. Quan sát cái chết khó hiểu này, ông ngoại tôi đâm ra nghi ngờ về sự tồn tại của con rể, để cuối cùng thì quên hẳn cha tôi.
Tôi không cần phải quên cha tôi : trong khi im lìm chạy trốn, Jean-Baptiste cha tôi đã từ chối không cho tôi nềm hạnh phúc được làm quen với ông. Thậm chí hôm nay tôi vẫn còn ngạc nhiên với những điều ít ỏi mà tôi biết về ông. Dù sao thi ông cũng đã yêu, đã muốn sống, và ông đã thấy mình chết ; điều ấy đủ để làm nên một con người. Nhưng chẳng ai trong gia đình tôi có khả năng khiến tôi tò mò về con người ông. Trong nhiều năm liền, tôi có thể thấy, ngay trên đầu giường tôi, chân dung của một sĩ quan nhỏ bé với đôi mắt ngây thơ, đầu tròn và ít tóc, với một bộ ria mạnh mẽ : khi mẹ tôi tái hôn, bức chân dung biến mất. Sau này, tôi thừa hưởng những cuốn sách từng thuộc về ông : một tác phẩm của Le Dantec về tương lai của khoa học, một cuốn nữa của Weber có nhan đề : Về chủ nghĩa thực chứng thông qua chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối. Ông đọc những thứ vớ vẩn y hệt như những người cùng thời ông. Ở lề sách, tôi thường thấy những nét chữ nguệch ngoạc không sao luận được, những dấu hiệu chết của một tia sáng bé nhỏ từng sống và nhảy nhót vào thời điểm tôi vừa lọt lòng. Tôi bán những cuốn sách ấy đi : kẻ quá cố này hầu như không liên quan đến tôi. Tôi nghe phong thanh về ông, như kiểu tôi nghe về chàng Mặt nạ Sắt hay hiệp sĩ Eon, và những gì tôi biết về ông chẳng ăn nhập gì với tôi : ông có yêu tôi hay không, ông có ôm tôi vào lòng hay không, ông có hướng về tôi cặp mắt màu sáng của ông, cặp mắt ngày hôm nay đã bị mục trong đất, hay không ? giờ đây chẳng ai còn nhớ : đó là những nỗi đau khổ yêu thương đã mất rồi. Người cha này thậm chí không phải là một cái bóng hay một cái nhìn : chúng tôi, ông và tôi, trong một khoảng thời gian nào đó, đã cùng xuất hiện trên trái đất này, có vậy thôi. Thay vì coi tôi như một đứa con của người chết, người ta đã muốn tôi hiểu rằng tôi là đứa con của phép màu. Từ đó suy ra, không nghĩ ngờ gì nữa, sự phóng túng không thể tin nổi của tôi. Tôi không phải là sếp, cũng không mong muốn trở thành sếp. Ra lệnh, phục tùng, tất cả chỉ là một. Người độc đoán nhất ra lệnh nhân danh một kẻ khác, một kẻ ăn bám thiêng liêng – cha tôi -, truyền đi tất cả những hung bạo trừu tượng mà chính mình từng gánh chịu. Cả đời tôi, tôi chưa bao giờ ra lệnh mà lại không cười và chọc cười ; đó là vì tôi đã không bị ăn mòn bởi sự lở loét của quyền lực : người ta không dạy tôi phải phục tùng.
Tôi phải phục tùng ai nhỉ ? Người ta chỉ cho tôi xem một thiếu phụ khổng lồ, người ta bảo tôi đó là mẹ tôi. Về phía tôi, tôi coi bà như thể chị cả của tôi. Thiếu phụ trinh trắng bị tù tại gia đó, tuân lệnh mọi thứ, tôi thấy rõ là bà có mặt ở đây là để phục vụ tôi. Tôi yêu bà, nhưng làm sao tôi có thể tôn trọng bà trong khi chẳng ai tôn trọng bà? Trong nhà của ông bà ngoại tôi có ba phòng ngủ : phòng của ông ngoại tôi, phòng của bà ngoại tôi, phòng của « trẻ con ». « Trẻ con », tức là chúng tôi, mẹ tôi và tôi : đều vị thành niên như nhau và đều phải được nuôi dưỡng như nhau. Nhưng mọi sự quan tâm đều dành cho tôi. Trong phòng của tôi, người ta kê một cái giường thiếu nữ. Nàng thiếu nữ ngủ một mình và trong trắng thức dậy ; trong khi tôi vẫn còn ngủ, thì nàng đã chạy đi tắm ; rồi nàng quay lại quần áo đâu vào đấy: làm sao tôi lại có thể được sinh ra từ nàng ? Nàng kể cho tôi những bất hạnh của nàng và tôi nghe với một lòng tắc ẩn : sau đó, tôi sẽ cưới nàng để bảo vệ nàng. Tôi hứa với nàng điều đó : tôi sẽ chìa tay về phía nàng, đặt tay lên nàng, lấy sự quan trọng non trẻ của tôi ra để giúp nàng. Người ta nghĩ là tôi sẽ phục tùng nàng hay sao ? Tôi nhân từ lùi bước trước những thỉnh cầu của nàng. Mà nàng có bao giờ ra lệnh cho tôi đâu: bằng những lời nhẹ nhàng, nàng phác thảo một tương lai mà nàng tha thiết mong tôi thực hiện : « Con trai bé nhé yêu dấu của mẹ sẽ dễ thương, sẽ ngoan ngoãn, sẽ để mẹ nhỏ thuốc mũi. » Tôi để mình rơi vào bẫy của những lời tiên tri êm ái này.
Còn lại người ông gia trưởng : ông ngoại tôi giống Chúa trời đến độ người ta thường coi ông là Chúa trời. Một hôm, ông vào một nhà thờ qua kho đồ thờ ; cha xứ đang dọa lũ người sùng đạo bằng những lời sấm truyền : « Chúa trời có mặt ở đây ! Người nhìn thấy các vị ! » Bỗng dưng, các tín đồ phát hiện dưới bục giảng của cha xứ một lão già cao lớn có râu, lão đang nhìn họ : họ bỏ đi. Trước đây, ông ngoại tôi nói là họ quì dưới chân ông. Ông dần dần thích hiện hình. Tháng Chín năm 1914, ông hiện ra trong một rạp xi nê của Arcachon : mẹ tôi và tôi đang ngồi ở trên gác, lúc ông yêu cầu bật đèn ; những quí ông khác đóng vai các thiên thần xung quanh ông và kêu : « Chiến thắng ! Chiến thắng ! » Chúa trời bước lên sân khấu và đọc bản thông cáo Marne. Vào thời kỳ mà bộ râu của ông còn đen, ông là Giê-hô-va và tôi ngờ rằng Emile con trai ông đã chết vì ông, một cách gián tiếp. Tên Chúa trời nổi giận này đã uống máu tươi của các con trai, nhưng tôi thì lại hiện diện trong suốt cuộc đời dài của ông, bộ râu của ông bạc đi, thuốc lá đã mang lại cho nó màu vàng và mối quan hệ phụ tử không khiến ông khoái nữa. Giá mà ông có sinh ra tôi, dẫu vậy, tôi vẫn tin rằng, theo thói quen, ông sẽ không thể nhịn được ý muốn biến tôi thành nô lệ. Sự may mắn của tôi là thuộc về một người chết: một người chết đã rót vài giọt tinh trùng tạo ra một giá trị thường thấy là một đứa trẻ; tôi là vùng đất mặt trời độc chiếm, ông ngoại tôi có thể có tôi trong tay mà không cần sở hữu tôi: tôi là “kỳ quan” của ông bởi vì ông muốn kết thúc đời mình như một người già bị choáng ngợp. Ông quyết định coi tôi như một đặc ân của số phận, một món quà không mất tiền mua, có thể bỏ đi bất cứ lúc nào; ông trông chờ gì ở tôi? Tôi chỉ có thể cho ông mỗi sự hiện diện của tôi mà thôi. Ông là Thánh thần với bộ râu của Cha và trái tim thiêng của Con; ông đặt tay lên tôi, tôi cảm thấy trên đầu tôi hơi ấm của lòng bàn tay ông, ông gọi tôi là thăng cu con bé bỏng của ông bằng một giọng run rẩy ngọt ngào, nước mắt nhòa đi cái nhìn lạnh lẽo. Tất cả mọi người cũng kêu lên: “Thằng ranh con đã khiến lão ấy phát rồ!” Ông tôn thờ tôi, rõ là thế. Nhưng ông có yêu tôi không? Trong một niềm say mê công khai như thế, tôi khó lòng có thể phân biệt thành thật và giả vờ: tôi không tin là ông có nhiều tình cảm với những đứa cháu trai khác của ông; đúng là ông cũng ít gặp họ và họ cũng chẳng cần gì ở ông. Tôi, tôi phụ thuộc tất cả vào ông: ông tôn thờ trong tôi lòng cao thượng của chính ông.
Trên thực tế, ông có chú ý ít nhiều đến sự cao cả: đó là một người của thế kỷ 19 và giống như bao người cùng thời của ông, giống như bản thân Victor Hugo, ông tự cho mình là Victor Hugo. Với tôi, người đàn ông đẹp trai có bộ râu dài như suối, lúc nào cũng ở giữa hai cảnh thay đổi bất ngờ của một vở kịch, là một kẻ say giữa hai loại rượu vang, nạn nhân của hai kỹ thuật được phát hiện không lâu: nghệ thuật nhiếp ảnh và nghệ thuật làm ông. Ông có cái may và cái bất hạnh là người ăn ảnh; trong nhà tràn ngập ảnh ông: vì người ta không chụp ảnh lấy ngay, nên ông dần dần khoái pô ảnh và cảnh người thực; tất cả với ông chỉ là cái cớ để dừng cử động, để bất động trong một tư thế đẹp, để hóa thành đá; ông phát điên lên trước những chốc lát ngắn ngủi này của sự bất tử, lúc mà ông trở thành bức tượng của chính ông. Tôi chỉ giữ lại từ ông – có liên quan đến sự yêu thích ông giành cho cảnh người thực – những hình ảnh thô cứng của đèn lồng màu nhiệm, ông tổ của máy chiếu dương bản: một cảnh trong rừng, tôi ngồi trên một thân cây, tôi năm tuổi: Charles Schweitzer ông ngoại tôi đội mũ panama, mặc com-lê bằng flannel có sọc đen, áo gi-lê bằng vải chần màu trắng, đeo một sợi xích đồng hồ; đôi kính cặp mũi treo ở đầu một sợi dây; ông nghiêng xuống tôi, giơ một ngón tay đeo nhẫn vàng, và nói. Tất cả đều u tối, tất cả đều ẩm ướt, trừ bộ râu chói sáng của ông: ông mang hào quang của ông xung quanh cằm. Tôi không biết ông đang nói gì: tôi quá chú ý nghe để nghe thấy. Tôi đồ rằng cụ già theo chế độ Cộng hòa Đế chế này đang dạy tôi những bài học công dân và kể cho tôi nghe về lịch sử tư sản; có vua, hoàng đế, bọn chúng rất độc ác; chúng ta đã quét sạch chúng, mọi thứ sẽ tốt đẹp. Buổi tối, khi chúng tôi ra đường đợi ông, chúng tôi ngay lập tức nhận ra ông trong đám người du lịch chui ra từ cáp treo, nhờ chiều cao của ông, nhờ dáng đi như thày dạy nhảy của ông. Từ nơi xa nhất, ông nhìn thấy chúng tôi, ông “tạo dáng”, tuân theo những mệnh lệnh của một thợ ảnh vô hình: râu bay trong gió, thân thẳng, hai bàn chân vuông góc, ngực ưỡn ra, hai cánh tay mở rộng. Trước tín hiệu đó, tôi bất động, rồi tôi nghiêng về phía trước, tôi là vận động viên xe đạp bắt đầu cuộc đua, con chim nhỏ được nhấn nút; chúng tôi nhìn vào mặt nhau vài tích tắc, một nhóm người từ vùng Saxe, rồi tôi chồm lên, người chất đầy hoa và quả, hạnh phúc của ông. Tôi va vào đầu gối của ông, giả vờ đứt hơi, ông nhấc tôi khỏi mặt đất, nhấc bổng tôi lên tận mây xanh, ấp tôi vào ngực và thầm thì: “Cục vàng của ông!”. Tôi là nhân vật thứ hai, nổi bật giữa những người qua đường. Chúng tôi đóng một vở kịch đơn giản với nhiều đoạn: ve vãn, hiểu lầm rồi thôi, chọc ghẹo, mắng yêu, hờn dỗi, ra vẻ bí mật âu yếm và say mê: đôi khi tôi hống hách, nhưng những thất thường này không thể dấu được sự nhạy cảm tao nhã của tôi; ông cho thấy sự phù phiếm cao cả và ngây thơ rất hợp với những người ông, ông cho thấy sự mù lòa – những sự yếu đuối tội lỗi mà Hugo từng bắt chúng ta nên có. Nếu người ta cho tôi bánh mì khô, thì ông mang cho tôi mứt hoa quả; nhưng bà ngoại tôi và mẹ tôi, hai người phụ nữ bị khiếp sợ kia, đã hết sức tránh để tôi đừng động đến. Và tôi cũng là một đứa trẻ ngoan: tôi thấy vai của mình hợp đến độ tôi chẳng rời ra được. Trong thực tế, sự về hưu nhanh chóng của ông đã tặng tôi một phức cảm “Oedipe” không đầy đủ: không có ai – trên – lưng, đúng thế, nhưng cũng không cũng chẳng có hung bạo. Mẹ tôi thuộc về tôi, chẳng ai tranh cãi với tôi cái quyền sở hữu trầm lặng đó: tôi không biết thế nào là bạo lực và thù hận, người ta cũng tránh cho tôi sự luyện tập khó khăn của lòng ghen tức; thiếu dịp va chạm vào các góc của nó, đầu tiên tôi chỉ biết sự thật qua tính lỏng lẻo tươi cười của nó. Tôi nối dậy chống ai, chống cái gì bây giờ: không bao giờ sự đồng bóng của một người khác lại tự coi là uy quyền của tôi.
Tôi hiền lành cho phép người ta đi giày ngủ cho tôi, nhỏ thuốc mũi cho tôi, chải tóc cho tôi, tắm rửa cho tôi, mặc quần áo và cởi quần áo cho tôi, chải chuốt, vuốt ve tôi; tôi chẳng biết cái gì hay ho hơn là đóng vai một đứa trẻ ngoan. Tôi không bao giờ khóc, cũng không cười, tôi không gây tiếng động; lên bốn, người ta dạy tôi cho muối vào mứt hoa quả: tôi đồ rằng vì tình yêu khoa học hơn là tinh nghịch; dầu thế nào, đó là tội ác duy nhất mà tôi còn nhớ. Chủ nhật, hai người phụ nữ đó thỉnh thoảng đi lễ mi-sa ở nhà thờ, để nghe nhạc, một nghệ sĩ đàn ống nổi tiếng; cả bà ngoại tôi lẫn mẹ tôi đều không mộ đạo nhưng tín ngưỡng của những người khác đã khiến họ ngây ngất trong âm nhạc; họ tin vào Chúa trời vào lúc mê mải nghe một khúc tôcat.


Leave a comment

CHỈ CÒN 4 NGÀY LÀ HẾT THÁNG TƯ (chương 1. phần 3)

4 tháng sau, 444 đoàn viên toàn trường được lệnh tích cực tham gia chiến dịch cải tạo công thương nghiệp.

Cải tạo công thương nghiệp là gì?- Là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, là công hữu hóa tư liệu sản xuất, đưa công nhân lao động lên làm chủ nhà máy xí nghiệp.

Đoàn trường chia thành 4 nhóm, kết hợp với Ủy ban Nhân dân Thành phố thành 4 tổ công tác đặc biệt, tổ nào cũng được hướng dẫn tận tình bởi 4 chuyên gia Hà Nội, theo lệnh từ Trung Ương, áp dụng 4 phương pháp đã thực hiện thành công trong Cải cách Công Tư thương ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Bí thư đoàn trường và tân phó bí thư Tòng mỗi ngày 4 lần đến từng tổ giám sát kỹ càng. Ân và nàng được cử về các tổ khác nhau, để bảo đảm bí mật, bí mật là một trong 4 nguyên tắc hàng đầu của chiến dịch.

Việc trước tiên là lên danh sách 44 người giàu nhất thành phố, tổ trưởng nói. 44 người giàu nhất đã lên máy bay hết rồi, ai đó trả lời. Thì 44 người giàu vừa, 44 trung thương, và 444 tiểu thương, tổ trưởng nói tiếp.

Nàng không thể nói tên ai, nàng không biết thế nào là giàu nhất, thế nào là giàu vừa, thế nào là trung thương, thế nào là tiểu thương. Chủ nhà in, chủ xưởng bánh ngọt, chủ tiệm thuốc tây, tổ trưởng gợi ý.

Nàng vẫn không thể nói tên ai. Chủ nhà in là chú đứa bạn hồi trung học của nàng, chủ xưởng bánh ngọt là bác hàng xóm, chủ tiệm thuốc tây là má ruột nàng.

Tổ trưởng cho nàng 4 ngày suy nghĩ.

Tổ trưởng của Ân cũng cho Ân 4 ngày suy nghĩ. Vì cũng như nàng, Ân không thể nói được tên ai, ai là người giàu nhất, ai là người giàu vừa, ai là trung thương, ai là tiểu thương. Chủ nhà in là chú đứa bạn hồi trung học của nàng và Ân, chủ xưởng bánh ngọt là bác hàng xóm, chủ tiệm thuốc tây là má ruột của họ.

Cuối ngày thứ 4, nàng và Ân ngồi viết bản tự kiểm điểm. 4 ngày 4 đêm thì xong 4 bản tự kiểm điểm giống nhau như 4 chị em sinh tư. Sau này, trong các giấc mơ của nàng vẫn nhào lộn như bươm bướm 4 bản tự kiểm điểm lần đầu tiên trong đời, viết bằng mực xanh dương trên giấy kẻ 4 ly ố vàng, dưới cùng là 4 lời nhận xét cũng giống nhau như 4 chị em sinh tư của các tổ trưởng các tổ công tác đặc biệt: thiếu tinh thần giai cấp, yếu đấu tranh vô sản, chưa tự giác cao độ, cần hết sức theo dõi.

Trên thuyền, sốt cao, mê sảng 4 ngày, Ân vẫn hỏi 4 bản tự kiểm điểm đâu, đã ký chưa, bao giờ nộp tổ trưởng. Ân nói giữ cẩn thận không rơi xuống biển, tổ trưởng kỷ luật. Ân nói không tìm được người giàu, tổ trưởng kỷ luật. Ân nói không cho tên má vào danh sách, tổ trưởng kỷ luật. Ân nói Ân sợ kỷ luật, Ân sợ cải tạo, sợ đi kinh tế mới, sợ đi thanh niên xung phong, sợ ăn bo bo và tắm nước ruộng, sợ đỉa chui cửa mình.
Toàn thân Ân nóng rực. Hơi thở Ân nóng rực. Giọng Ân giật cục.
Nàng khóc. Phụ nữ cả thuyền ôm nhau khóc. Con nít đùng đùng khóc theo. Mặt trời thiêu đốt trên đầu. Sóng biển sôi sục dưới lưng. 44 cái bụng rỗng không. 44 cái miệng khô khốc.
Ân không nhỏ giọt nước mắt nào. Ân sẽ chẳng bao giờ nhỏ giọt nước mắt nào.

 

Nàng đã gọi điện trong lúc hắn chuẩn bị đến trường. Giọng vẫn ngập ngừng (nhờ vậy mà hắn nhận ngay ra nàng và rùng mình 4 cái), nàng đề nghị hắn chụp hình giúp. Cuộn phim lần trước bị hỏng, tráng ra chỉ được màu đen, nàng giải thích. Hắn lại có cảm giác như hắn và nàng đang ở một thế giới khác và mở miệng mà không nói được câu nào. Rồi cũng như lần trước, nàng phải nhắc lại đề nghị. 4 giờ chiều có kịp không? hắn giật mình hỏi vội. Nàng đang đứng cạnh nhà thờ Đức Bà. Hôm nay không có tuyết, nhưng trời lại nhiều mây, nàng hy vọng không làm phiền hắn quá 44 phút, rồi nàng sẽ lên tầu về Aix-en-provence. Hắn không thể không đến dự hội thảo, sẽ có 4 báo cáo khoa học của 4 giáo sư đang dạy hắn ở trường. Nhưng nói thế nào cho nàng hiểu rằng cuối năm hắn không muốn nhận 4 điểm 4. Hắn im lặng. Nàng bỏ máy. Hội thảo sau đó lê thê. 4 báo cáo viên cầm giấy đọc ngắc ngứ như 4 gà mắc tóc. 44 thính giả lần lượt ngủ như 44 gà ngủ gật. Nếu hắn có gục ra trên bàn thì cũng không sợ bị gà nào đập vào vai 4 cái. Nhưng trán hắn nóng bừng. Cho tới 4 giờ chiều, hắn không ngừng tưởng tượng cảnh nàng nghiêng đầu, mỉm cười, vuốt tóc và thằng cha căng chú kiết nào đó đang đứng vào chỗ của hắn để chụp ảnh cho nàng, để ngắm nàng thật kỹ, từ 4 góc độ khác nhau, từng nét trên khuôn mặt. Một cuộn Kodak thì cho phép ngắm thậm chí 4 tiếng ngay cả khi trời đẹp. Sau đó, rất có thể “hay là ta tìm chỗ nào đấy uống 4 cái gì cho mát cổ họng, đỡ mỏi 4 đầu gối”, và 4 lời mời lịch sự khác. Không hiểu sao, hắn cứ nhất định tưởng tượng rằng đó là một thằng cha cao ráo sáng sủa, không quá đẹp trai nhưng rất ga-lăng, thích chăm sóc các thiếu nữ, đặc biệt là các thiếu nữ Á đông, các thiếu nữ Á đông lang thang một mình ở kè sông Seine, tay cầm máy ảnh. Chính hắn cũng bất ngờ vì khả năng tưởng tượng của bản thân. Ra khỏi cổng trường, hắn chạy xuống tàu điện ngầm và 44 phút sau có mặt ở nhà ga Lyon. Còi tàu vang lên khắp nơi. 4 lần hắn suýt bị xô ngã bởi 4 hành khách đang cuống cuồng sợ lỡ tàu. Khi tìm ra tàu tốc hành đi Aix-en-provence, hắn chạy tới toa số 4, nơi có 4 bàn tay phụ nữ thò ra ngoài cửa sổ và dường như bàn tay gày gò nhất đang hướng về phía hắn.
Hắn về nhà và hắn đợi điện thoại của nàng. Ngày nào hắn cũng đợi. Ngày nào cũng 4 lần kiểm tra máy nhắn tin (mà hắn mới mua ngay sau hôm gặp hụt nàng ở nhà ga Lyon), nhưng lần nào cũng thất vọng: không có tin nhắn nào của nàng, cũng không dấu hiệu nào chứng tỏ nàng đã gọi tới số của hắn (chỉ có mẹ hắn gọi điện 4 lần nhắc chủ nhật về nhà ăn cơm với gia đình). Như để làm dịu nỗi thất vọng, hắn đọc “On the road”. Hắn mường tượng cuốn sách ngẫu nhiên này phải có một ý nghĩa đặc biệt: chẳng phải do nàng mà hắn đã giữ nó lại đấy sao? Hôm ấy, ở quán cà phê, nếu nàng không bất ngờ xuất hiện, thì hắn đã chẳng nhét vội nó vào một trong 4 túi áo khoác và chính nó trong số 4 cuốn sách hắn thấy trên bàn. Nhờ từ điển Harrap’s, hắn đọc không nhảy cóc, 44 phút xong 4 trang. Hắn bắt đầu khoái chuyến giang hồ bất tận của Sal, khoái cảnh Sal gặp Terry trên xe ca đi LA, cảnh Sal qua đêm trong rạp chiếu phim ở New York, cảnh Sal mò mẫm giữa hoang mạc Mễ-tây-cơ. Sau “On the road”, hắn tìm đọc các thứ khác của Kerouac. Hắn biết ông ta làm cả thơ. Hắn học thuộc 4 bài thơ trong tập thơ của Kerouac mà hắn mượn được ở thư viện quận. Hắn chẳng còn tha thiết với bài vở. Thay vì 4 câu hỏi lý thuyết y học, hắn lẩm nhẩm những câu thơ mà đến bây giờ hắn vẫn còn nhớ, những câu thơ thế này:

Khách sạn cuối cùng
Ta có thể nhìn thấy bức tường đen
Ta có thể nhìn thấy dáng người trên cửa sổ
Hắn đang chuyện trò
Ta chẳng quan tâm đến câu chuyện hắn nói
Ta chỉ quan tâm đến việc đây là khách sạn cuối cùng

Khách sạn cuối cùng

Những hồn ma trên giường ta
Những con dê ta thọc huyết

Khách sạn cuối cùng

Ta có thể nhìn thấy dáng người trên cửa sổ
Hắn đang chuyện trò
Ta chẳng quan tâm đến câu chuyện hắn nói
Ta chỉ quan tâm đến việc đây là khách sạn cuối cùng


Leave a comment

T mất tích như thế nào?

We both are lost
And alone in the world
Walk with me
In the gentle rain
Don’t be afraid, I’ve a hand
For your hand and i
Will be your love for a while
I feel your tears as they fall
On my cheek
They are warm like gentle rain
Come little one you have me in the
World and our love will be sweet
will be sad
Like the gentle rain
Like the gentle rain
Run rẩy hơi nóng. Hôm nay trời vẫn 38° như bất kỳ một ngày tháng tư nào, nhưng lại là một ngày đáng nhớ, với hai sự kiện: sự kiện thứ nhất mang tính nghề nghiệp – cách đây nửa giờ đồng hồ tôi vừa đặt dấu chấm, kết thúc tiểu thuyết mà ngay từ đầu đã được đặt tên là « T mất tích », sự kiện thứ hai có lẽ thuộc về tình cảm – nửa giờ đồng hồ nữa tôi sẽ gặp lại hắn, người tôi thầm yêu trộm nhớ mười lăm năm trước, tên của hắn tôi không thể tiết lộ, không phải vì cả hai chúng tôi đều đã có gia đình riêng mà bởi một lý do bản thân tôi cũng chưa xác định nổi. Run rẩy hơi nóng. Sài Gòn không một hạt mưa. Sáu tháng liền không được uống một hạt mưa. Sáu tháng liền mưa dạo chơi ngoài biển để thành phố nghe mưa qua băng nhạc thính phòng. Nơi tôi đang ngồi là một căn gác xép, mái tôn và sàn gỗ phế phẩm. Chủ nhà khi có ý định biến nó thành quán cà phê đã nhiệt tình sơn lại cửa sổ và treo cả ri đô, nhưng năm tháng trôi qua, sơn đã phai và vải đã mòn, nhiệt tình tất nhiên là phai mòn trước hết. Rất có thể do hơi nóng. Thành phố chết ngạt trong hơi nóng, tàn tạ vì hơi nóng. Nhưng dù sao thì cửa sổ cũng từng sơn màu xanh lá cây, màu xanh lá cây duy nhất của cả một con phố dài, cũng cạn kiệt vì hơi nóng, cả một con phố dài, không một bóng cây, không một bóng người, chỉ có hai hàng cột điện với rất nhiều dây điện và dây cáp, với một dải băng đỏ cắt ngang – khẩu hiệu chào mừng ba mươi năm đất nước thống nhất. Run rẩy hơi nóng. Tôi ngó lòng đường, lòng đường trải nhựa cũng bốc hơi nghi ngút. Tôi ngó mặt trời, mặt trời đỏ lửa. Mặt trời đỏ lửa là Sài Gòn của tháng tư. Mặt trời âm u là Đông Dương của Duras. Ngày gặp hắn, mười lăm năm trước, tôi chưa đọc cả “Người tình” lẫn “Người tình Hoa Bắc”. Tôi chưa tập tọe cầm bút viết văn. Tôi chỉ thầm yêu trộm nhớ. Và lang thang. Zimmer không ở bùng binh Sài Gòn mà nằm trên quảng trường Châtelet, không sát nách siêu thị xe máy mà ngay cạnh nhà hát thành phố, đi thêm một đoạn là tới chợ, không bán sầu riêng và măng cụt mà bán thú cảnh và cây cảnh. Hôm tôi đi qua, thấy bán cả trúc núi và lợn Mường. Hôm tôi đi qua, trời vừa lạnh vừa ẩm. Paris cuối đông vừa lạnh vừa ẩm. Nhưng Hà Nội cuối đông cũng vừa lạnh vừa ẩm. Hồng Kông cuối đông cũng vừa lạnh vừa ẩm. Mười lăm năm trí nhớ phai mòn. Chỉ còn lại mỗi từ zimmer. Zimmer trong từ điển ghi là phòng ngủ, là từ tiếng Đức đầu tiên tôi học được. Ở Berlin, năm năm sau, cô nhân viên khách sạn hỏi thích zimmer nhìn ra phố hay xuống vườn. Wu chọn cái thứ hai. Anh không thích ngắm cây, không thích ngắm màu xanh, cũng chẳng thích ngắm yên tĩnh, nhưng thích ngắm tôi không mặc gì khoanh chân cuốn sushi. Tảo và wasabi lúc nào cũng để sẵn trong túi du lịch, cạnh màu vẽ, bút lông và dây cước. Cơm trộn dấm không có trong cửa hàng Thổ nhưng đối diện khách sạn là quán ăn châu Á. Tới Berlin một ngày là đủ hiểu trong tiếng Đức bình dân đương đại, châu Á có nghĩa là Việt Nam, Việt Nam có nghĩa là Hà Nội, Hà Nội có nghĩa là bán cơm và thuốc lá lậu. Ngày gặp hắn, mười lăm năm trước, tôi chưa nếm cả sushi lẫn maki, và chỉ thèm cơm trắng. Nước Nga nhờ Cải Tổ mà hàn lại quan hệ Trung-Xô, Moscou nhận một cửa hàng ăn uống mậu dịch tỉnh Quảng Tây, đem về đặt dưới chân đồi Lê-nin, thực đơn gồm đậu phụ, tương đen và cơm trắng, đúng một trăm ngày thì đóng cửa vĩnh viễn. Nước Nga cũng nhờ Cải Tổ mà kết thúc chiến tranh lạnh, Moscou nhận một lâu đài giả cổ Mc Donald, đem về đặt cạnh quảng trường Đỏ, thực đơn gồm thịt bò, phó mát, khoai tây, đúng một trăm ngày đã đón nửa triệu thực khách. Ôi, những năm ngây ngô nhất của tôi cũng là những năm cuối cùng của liên bang Xô-Viết. Ngày gặp hắn, mười lăm năm trước, tôi nửa Hà Nội, nửa Liên Xô. Và tiếng Pháp nham nhở. Tiếng Pháp, tôi và Anna cùng học chung một sách, một thày, một lớp buổi chiều, tất cả những buổi chiều một mùa đông dài nhất trong năm năm, một mùa đông không có Adlan, tuyết rơi vô kể, sông Moscou biến mất hoàn toàn, đường tàu điện cũng biến mất hoàn toàn, hai đứa giữ tay nhau xiêu vẹo. Tôi không hiểu tại sao hắn lại đề nghị hội ngộ ở cái gác xép này. Không máy lạnh, không quạt trần, chỉ ba bộ bàn ghế, mặt ghế đầy vết dao cắt, mặt bàn nhớp nháp nước đá và tàn thuốc, đường, vỏ hạt dưa và xác con thiêu thân. Run rẩy hơi nóng. Không gian có chiều cao hai mét cạn kiệt vì hơi nóng. Tôi cũng không hiểu bằng cách nào hắn tìm được cái gác xép này. Không số nhà, không bảng hiệu, không thực đơn, chỉ ông chủ trung niên ngồi ngủ gật, và hai khách hàng không rõ tuổi cũng đang gật gù. Chiếc máy cát-xét không rõ tuổi cũng đang gật gù, Khánh Ly hát mãi our love will be sweet. Will be sad. Like the gentle rain. Like the gentle rain. Rất có thể do hơi nóng. Thành phố chết ngạt trong hơi nóng, tàn tạ vì hơi nóng. Mỗi ngày là một ngày 38°. Sáu tháng rồi mưa vẫn dạo chơi ngoài Thái Bình Dương. Nhưng dù sao thì cửa sổ cũng từng sơn màu xanh lá cây, màu xanh lá cây duy nhất của cả một con phố dài. Qua điện thoại, hắn nói xin chào bằng tiếng Việt, hắn nói hắn muốn nghe giọng tôi, hắn biết tôi viết tiểu thuyết. Giọng hắn run run, không biết có phải vì hơi nóng, nhưng rõ ràng là fan của Duras, từng từ từng chữ là fan của Duras. Hắn lại nói tiếp, tiếng Việt của hắn không đủ để đọc tôi. Rồi hắn im lặng. Tôi thở phào, dù sao thì câu này cũng không có trong « Người tình ». Dù sao thì hắn cũng không bảo hắn vẫn yêu tôi như trước, hắn không thể ngừng yêu tôi, hắn sẽ yêu tôi cho tới khi chết. « Người tình » tôi đọc đi đọc lại, nhưng cái câu kết thúc này chưa bao giờ tôi dám nhìn lần thứ hai. Cái câu kết thúc này, không cần Duras thì văn chương Việt cũng đẫm nước mắt rồi. Qua điện thoại, hắn nói tạm biệt bằng tiếng Việt, hắn nói có giấy bút không ghi lại địa chỉ, hắn nói địa chỉ lằng nhằng lắm, không cẩn thận là lạc như chơi. Giọng hắn run run, không biết có phải vì hơi nóng. Mười lăm năm trước, qua điện thoại giọng hắn không run, hắn bảo zimmer, quảng trường Châtelet, rồi cúp máy. Mười lăm năm trước, hắn không biết một câu tiếng Việt nào. Mười lăm năm trước, tôi mất cả giờ lẩm bẩm zimmer. Hắn cũng chẳng buồn nói có giấy bút không ghi lại địa chỉ, địa chỉ lằng nhằng lắm không cẩn thận là lạc như chơi. Hắn bảo zimmer, quảng trường Châtelet, rồi cúp máy. Mười lăm năm trước, hắn biết là tôi sẽ đến, Paris có bão tuyết thì tôi cũng sẽ đến, quảng trường Châtelet có lụt tới bụng thì tôi cũng sẽ đến, Zimmer có bị đặt bom thì tôi cũng sẽ đến. Mười lăm năm trước, tôi chỉ biết yêu thầm nhớ trộm. Nửa Liên Xô, nửa Hà Nội. Và tiếng Pháp nham nhở. Tiếng Pháp nham nhở là lỗi của tôi và Anna, hay lỗi của Adlan, hay lỗi của cộng hòa Nga, hay lỗi của nghĩa quân Tchéchène, hay lỗi của cuối đông vừa lạnh vừa ẩm, hay vì Anna khóc một tuần liền mà Adlan vẫn một mực về Grozny, thi tốt nghiệp mỏ – địa chất không quan trọng bằng học bắn tiểu liên và ném lựu đạn cối. Mười lăm năm trước Anna không yêu thầm nhớ trộm. Qua điện thoại Anna bảo Adlan chết rồi, lúc chết vẫn cầm tiểu liên. Tôi khóc. Hai đứa cùng khóc. Paris cuối đông vừa lạnh vừa ẩm. Moscou cuối đông vẫn im lìm trong tuyết. Anna bảo nó hối hận đã làm phiền tôi, rằng chúng nó đã làm phiền tôi quá mức, năm năm liền mỗi tuần vài ba lần tôi nằm không nhúc nhích, từ nửa đêm tới bảnh mắt, để chúng nó không phải thầm yêu trộm nhớ ngay trên giường bên cạnh, rằng chúng nó không biết tôi có nhét bông vào tai hay không, chúng nó cũng không biết tôi có ti hí mắt lươn hay không, chúng nó không thể kiểm tra và cũng không có ý định kiểm tra, nhưng như thế là quá mức, năm năm liền, ngay giữa thi cuối năm, thi quốc gia, thi lịch sử đảng, một trăm hai mươi câu hỏi từ cách mạng tháng 10 tới hội nghị 26, chỉ bỏ đúng đoạn Gorbachev đón Reagan vào điện Kremlin. Ừ, một ngày cuối tháng 5, ba đứa ngây ngô, ngỡ ra Vnukovo từ sớm, là có thể thấy Reagan và Nancy, là có thể thấy nửa kia của thế giới. Moscou cuối mùa tử đinh hương. Adlan chia bó hoa làm đôi, tôi và Anna mỗi đứa một cành tím ngắt. Nhưng tất cả những chuyện ấy bây giờ vô nghĩa, vô nghĩa hoàn toàn. Từ ngày tôi đi. Từ ngày Adlan chết. Tôi khóc. Anna khóc. Điện thoại khản đặc. Qua điện thoại, hắn bảo hắn lấy vợ rồi, đã có con. Giọng hắn run run. Mười lăm năm trước, hắn không nhả từ nào về đời tư của hắn. Một tiếng đồng hồ ở Zimmer, hắn im lặng, tôi im lặng, cốc dứa xay nước đá chảy ròng ròng. Mười lăm năm trước, tất cả trong tôi đều mù mịt. Qua điện thoại, hắn bảo hắn biết tôi đã lấy chồng. Giọng hắn run run. Mười lăm năm trước, hắn không phát âm nổi tên tôi, lúc thừa h, lúc thiếu h, lúc dấu sắc, lúc dấu huyền, và tất nhiên không biết dấu nặng là gì, dấu mũ là gì. Hắn không cần biết. Hắn biết nếu hắn có biến tên tôi thành cái gì đi nữa, hoặc chẳng thành cái gì đi nữa, thì tôi cũng không chấp. Mười lăm năm trước, tôi chỉ thầm yêu trộm nhớ và lang thang. Paris cuối đông vừa lạnh vừa ẩm. Hà Nội cuối đông cũng vừa lạnh vừa ẩm. Hồng Kông cuối đông cũng vừa lạnh vừa ẩm. Mỗi Sài Gòn là không có mùa đông. Người Sài Gòn leo xe đò lên Đà Lạt để được cưỡi ngựa và khoác áo choàng len. Paris không có ngựa, chỉ có tàu điện ngầm. Mười lăm năm trước, dưới tàu điện ngầm, tôi và hắn mỗi đứa một kè, hai hướng ngược nhau, Nation và Charles-de-Gaulle Etoile, hai tàu vùn vụt lại gần, chưa đầy phút sau lại vùn vụt chia tay. Zimmer là buổi chia tay vĩnh viễn. Từ Zimmer trở đi, nhà hát thành phố tôi không dám lai vãng, đài phun nước Palmier tôi không dám chụp ảnh, quảng trường Châtelet tôi tránh từ xa. Thấy đôi cánh của thần Chiến Thắng là xe nào có tôi ngồi trong cũng tự động đổi hướng. Zimmer là từ húy của tôi. Zimmer là buổi chia tay vĩnh viễn. Qua điện thoại, hắn bảo tôi gọi điện cho hắn, số cầm tay đây, nhớ gọi. Giọng hắn run run. Tôi không hiểu hắn tới Sài Gòn làm gì, lâu hay chóng, làm việc hay du lịch mà có điện thoại cầm tay. Tôi không hiểu vợ hắn người Việt hay người Pháp, trẻ hay già, hấp dẫn nhiều hay hấp dẫn ít, có biết Sài Gòn không mà để chồng lang thang giữa Sài Gòn một mình. Tôi không hiểu bằng cách nào hắn tìm ra tôi, bằng cách nào hắn biết tôi để Wu lại khách sạn Hồng Kông, về Sài Gòn ba tháng, có ngày vài trăm chữ, có ngày vứt đi vài trăm chữ, « T mất tích » ra đời và kết thúc trên giường gỗ không đệm, một phòng trọ không điều hòa, không quạt trần, không bàn ghế, chỉ một cửa sổ nhỏ, sơn màu xanh lá cây, từ bao nhiêu năm không rõ, nhưng là màu xanh lá cây, màu xanh lá cây duy nhất của cả một con phố dài. Chợ Lớn phố nào cũng dài, phố nào cũng thừa đèn lồng đỏ, thiếu cửa sổ màu xanh lá cây. Qua điện thoại, câu cuối cùng hắn bảo hắn thèm viết văn như thèm cái chết. Giọng hắn run run. Hắn đặt ngay máy. Nhưng giá hắn có ngập ngừng thêm chút nữa thì tôi cũng không biết nói gì. Câu cuối cùng này quả là bất ngờ, bất ngờ hơn nhiều so với chuyện vợ con của hắn, bất ngờ hơn nhiều so với việc hắn đang ở Sài Gòn, hắn tìm ra số điện thoại của tôi, hắn hẹn tôi tới cái gác xép lợp tôn này. Mười lăm năm trước, tôi không biết hắn uống cà phê pha mấy viên đường, chủ nhật có thích ngủ dậy muộn hay không, giữa phim trinh thám và phim khoa học viễn tưởng thì không chọn phim gì. Mười lăm năm trước, mộng viết văn của hắn, mộng viết văn của tôi đều mù mịt. Mười lăm năm trước, Grozny sôi sục chia tay Moscou, tôi và Anna nằm ôm nhau khóc, học bổng vừa đủ tiền ăn xúp khoai tây, cơm trắng thuộc về trìu tượng, lớp tiếng Pháp những buổi chiều lê thê, những buổi chiều lạnh nhất của một mùa đông dài nhất, mùa đông không có Adlan, sông Moscou vẫn im lìm dưới tuyết. Mười lăm năm trước, thành phố Hồ Chí Minh căng khẩu hiệu chào mừng mười lăm năm thống nhất, Little Saigon treo cờ rủ tưởng niệm mười lăm năm quốc hận. Mười lăm năm trước, tôi chỉ biết thầm yêu trộm nhớ. Và lang thang. Mười lăm năm trước, tôi không biết T là ai. Mười lăm năm trước, tôi không biết mất tích là gì. Mười lăm năm trước, nếu tôi có cầm bút, Zimmer có là buổi chia tay vĩnh viễn hay tạm thời, thì T phải là chính tôi, chồng T phải là hắn, chúng tôi sẽ xây mộng đẹp như mơ, tôi là nàng lọ lem, còn hắn là chàng hoàng tử, một mối tình Việt-Pháp xinh tươi, với những kỉ niệm Việt-Pháp xinh tươi, văn chương không thể không xinh tươi. Như tôi của mười lăm năm trước. Má không nhọn và môi không cần son. Mười lăm năm trước, tôi chỉ thầm yêu trộm nhớ, nói gì tới chuyện phản bội, dù là phản bội như trong phim tình cảm xã hội, dù là chỉ nghĩ đến những ngón tay của một ai đấy, để đỡ phải uống thuốc ngủ, để đỡ bồn chồn khi ngồi máy bay. Mười lăm năm trước, Wu lúc đấy chưa là chồng tôi, chưa đặt chân đến cả Hồng Kông, Berlin lẫn châu Mỹ, nhưng đẹp trai và hào hiệp, gặp tôi lần đầu Wu bảo lấy anh đi để đừng lang thang, để không mất thời gian thầm yêu trộm nhớ. Giọng Wu không run, nói chung giọng anh không run bao giờ. Giọng chồng T cũng không run bao giờ, ngay cả khi hay tin T mất tích, ngay cả khi bị cảnh sát gọi lên hỏi han tận tình, ngay cả khi con Hannah khóc nhớ mẹ. Đúng như Wu nói, chúng tôi không mất thời gian thầm yêu trộm nhớ. Hai cá nhân chưa vợ chưa chồng, không bị ung thư giai đoạn cuối, không phạm tội hình sự, không ở lại Pháp trái luật, thì không lý gì lại mất thời gian thầm yêu trộm nhớ. Không lý gì. Wu nói chung thường có lý. Và không phí phạm thời gian. Hắn cũng không phí phạm thời gian. Nhưng hắn khác Wu, hắn không thể yêu một đứa lang thang. Hắn thích các nghiệm ổn định. Nói chung các nghiệm ổn định bao giờ cũng dễ được thích. Lang thang hiển nhiên là không ổn định, phụ nữ lang thang còn không ổn định hơn. Thế nên bố mẹ anh chị em tôi mừng như trúng sổ số độc đắc khi tôi được Wu hỏi làm vợ, đám cưới tiệc mặn, có gia đình bè bạn hai bên đến chia vui, có giấy đăng ký kết hôn do thị trưởng ký tên đóng dấu. Dù sao cũng đỡ lang thang. Đỡ lang thang là có khả năng chuyển hướng thành ổn định. Qui luật phát triển xã hội bố mẹ anh chị em tôi nắm vững và đặt hết niềm tin vào độ hào hiệp của Wu. Trong lúc tôi ngồi đợi hắn ở cái gác xép lợp tôn này thì Wu đang gọi vằn thắn dưới chân khách sạn Cheung Sha Wan, rồi khi cô phục vụ mang vằn thắn lại, thế nào anh cũng gọi thêm xíu quẩy, không có tôi cuốn sushi thì vằn thắn và xíu quẩy là món Wu thích, không biết có phải vì vằn thắn Hồng Kông vừa giòn vừa ngọt, hay xíu quẩy Cheung Sha Wan vàng xuộm và căng phồng, to đúng bằng chiếc bánh mì đũa của Paris, hay cô phục vụ biết cách điều chỉnh xườn xám thế nào để càng kéo xuống thì lại càng lộ đùi non. Hay vì cả ba lý do cùng một lúc. Xườn xám, vằn thắn Hồng Kông và cháo quẩy Cheung Sha Wan cũng là những nghiệm ổn định, đã thành truyền thống thì không thể không ổn định, thế nên nói chung ai cũng thích, chứ không riêng gì Wu, chứ không riêng gì hắn. Wu bảo Hồng Kong gallery là Berlin Paris cộng lại chia đôi, rồi lại bảo Hồng Kông restaurant là Thượng Hải Luân Đôn cộng lại chia đôi, cuối cùng Wu bảo Hồng Kông nói chung là Bắc Kinh New York cộng lại chia đôi. Nói chung cộng lại chia đôi bao giờ cũng có lý. Hai cái gì cộng lại chia đôi cũng ra một cái gì đấy. Paris, New York, Luân Đôn, Berlin, Bắc Kinh, Thượng Hải đều là các nghiệm ổn định, cộng lại chia đôi hay chia mấy thì cũng ra một nghiệm ổn định. Hà Nội, Sài Gòn thì không. Đã không ổn định thì cộng lại chia đôi hay chia mấy cũng ra một nghiệm không ổn định. Cô nhân viên khách sạn Cheung Sha Wan hỏi thích room nhìn ra đảo Chek Lap Kok hay xuống cảng Victoria, Wu chọn cái thứ hai. Anh không thích ngắm biển, ngắm cảng, ngắm nhà chọc trời mà thích ngắm tôi không mặc gì khoanh chân cuốn sushi. Từ ngày lấy tôi, tảo và wasabi bao giờ cũng để sẵn trong túi du lịch, cạnh màu vẽ, bút lông và dây cước. Đêm trước khi tôi đi, anh bảo Hồng Kông đã sang là quên Chợ Lớn. Anh để tôi tới Chợ Lớn một mình. Anh để tôi tự do trong phòng trọ không điều hòa, không quạt trần, không bàn ghế, tự do trên giường gỗ không đệm, tự do ngắm cửa sổ sơn màu xanh lá cây, màu xanh lá cây duy nhất của cả một con phố dài chỉ treo đèn lồng đỏ. Run rẩy hơi nóng. Không gian có chiều cao hai mét cạn kiệt vì hơi nóng. Ông chủ trung niên và hai vị khách vẫn đang gật gù. Khánh Ly vẫn hát our love will be sweet. Very sad. Very sweet like gentle rain. Like the gentle rain. Like the gentle rain. Rất có thể do hơi nóng. Thành phố chết ngạt trong hơi nóng, tàn tạ vì hơi nóng. Mặt đường trải nhựa cũng nghi ngút hơi. Tôi không biết hắn sẽ đến từ hướng nào, bằng xe ôm hay tắc-xi. Tôi cũng không biết nhà hắn ở đâu, phố có dài, cửa sổ có quét sơn màu xanh lá cây. Mười lăm năm lẽ nào đủ để hắn đổi Paris thành Sài Gòn, Zimmer thành gác xép lợp tôn, Glenn Gould thành Khánh Ly, cuối đông lạnh và ẩm thành tháng tư đỏ lửa, và thèm viết văn như thèm cái chết, viết văn không phải là truyền thống, không phải là giá trị ổn định, kém ổn định hơn cả lang thang, hơn cả Hà Nội, hơn cả Sài Gòn. Tôi tự nhủ giá « T mất tích » mà chưa viết xong, máu trinh thám còn lại ít nhiều, thế nào tôi cũng hứng khởi làm một cuộc điều tra về những biến đổi bất ngờ của hắn. Nhưng bây giờ thì muộn. Mọi thứ đều muộn. Đánh dấu chấm hết xong là muộn. Mười lăm năm là quá muộn. Ai đợi ai được mười lăm năm. Qua điện thoại, hắn bảo tôi cố đợi, nếu hắn đến muộn năm mười phút. Giọng hắn run run. Tôi định bảo năm mười phút nghĩa là gì so với mười lăm năm. Rồi lại thôi. Ai đợi ai được mười lăm năm. Tôi có nói hắn cũng không hiểu. Hắn không thể hiểu. Tôi cũng không thể hiểu. Mười lăm năm không phải là ba tháng. Năm 2005 thì ba tháng một ngày là điều-không-thể. Cách đây đúng ba tháng, tôi đang ở sân bay Hồng Kông, Wu gọi vào cầm tay bảo đúng ba tháng nữa mà tôi không có mặt ở Cheung Sha Wan thì anh đề nghị tôi mất tích luôn một thể. Giọng anh không run chút nào nhưng đảo Chek Lap Kok bỗng dưng chòng chành, ba chiếc máy bay cùng hạ cánh một lượt, chệch vài mét là lao thẳng xuống biển. Trong tiếng rít của động cơ, tôi nghe Wu nói tiếp : ba tháng mất tích là đủ, đừng lẫn lộn tiểu thuyết với cuộc đời. Không hiểu anh chủ động cúp điện thoại hay vì ba chiếc máy bay khác lại chuẩn bị hạ cánh, tiếng rít của động cơ tăng gấp đôi, tai tôi điếc đặc. Nhưng dù thế nào thì Wu cũng có lý (đừng lẫn lộn tiểu thuyết với cuộc đời) và không phí phạm thời gian (ba tháng là đủ). Bởi vậy, khi chiếc Air Bus 330 của hãng Dragon Air bay lượn trên biển Nam rồi biển Đông nối Hồng Kông với Sài Gòn, tôi đã bắt đầu hình dung trong đầu một thiếu phụ ngồi ở dãy bốn mươi, sát cửa sổ bên phải, trên một chiếc máy bay cất cánh cùng giờ với chiếc Air Bus 330 của tôi, nhưng xuất phát từ sân bay Charles-de-Gaulle của Pháp. Tôi sẽ gọi cô là T. T để đỡ nhầm với một loài hoa nào đó, một hương thơm nào đó, để đỡ nhầm với tuyết rơi hay mùa thu, hay trí tuệ hay hài hòa hay bất kì một mỹ từ nào đó của tiếng Việt. T đơn giản là T, có vậy thôi. T cúi đầu xem một cuốn họa báo, mái tóc đen thả dài. Vài ba lần, T cũng ngẩng lên, nhưng chỉ để ngó ra cửa sổ mấy phút, nên tôi đợi mãi đợi mãi hơn một tiếng đồng hồ mà không biết khuôn mặt T thế nào. Tôi cũng không biết T đi đâu, du lịch, công tác hay thăm thân nhân, nhưng có vẻ như T bình thản, tay giở đều đặn từng trang họa báo, dây bảo hiểm thắt gọn gàng ở bụng, túi xách tay cài ngay ngắn nơi lưng ghế đối diện. Cuối chiều của châu Á là giữa trưa của châu Âu nên cửa sổ máy bay lung linh ánh nắng. Rõ từng sợi tóc màu đen của T. Trong khoang khá vắng, ba ghế liền bên tay trái T đều không có người ngồi, cả dãy ghế đằng sau cũng trống trơn. Hành khách im lìm như hồi hộp trước một chuyến bay dài. Vô tuyến không có ai bật. Toa-lét không có ai đợi. Nhưng điều ấy có giúp được gì cho tôi nếu như T cứ nhất định cúi đầu, để khuôn mặt mãi mãi là một ẩn số. Tôi bắt đầu sốt ruột, từ loa phát ra lần lượt ba giọng nữ ngọt ngào bằng tiếng Hoa, tiếng Anh và tiếng Việt thông báo rằng chiếc Air Bus 330 của tôi chỉ nửa tiếng nữa sẽ hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, nhiệt độ bên ngoài là 38° và đề nghị quí khách nên điền trước tờ khai hải quan Việt Nam. Tôi có cảm giác chút nữa thôi, chỉ cần ra khỏi máy bay là trí tưởng tượng của tôi sẽ đứt liên lạc hoàn toàn với T. Tôi sẽ không thể tiếp tục hình dung khuôn mặt T, nơi T sẽ tới, công việc T sẽ làm, những người T sẽ gặp. Và như thế có nghĩa là chuyến đi Chợ Lớn của tôi thất bại ngay từ đầu, phòng trọ cửa sổ sơn màu xanh lá cây có nghĩa gì nữa đâu, tiểu thuyết là cuộc đời hay không là cuộc đời. Đang gần tuyệt vọng, khi chiếc Air Bus 330 chuyển mình lướt xuống đường bay Tân Sân Nhất trắng muốt như muối, tôi bất ngờ thấy một nữ chiêu đãi viên hàng không, đồng phục tím than, lại gần vỗ nhẹ lên vai T, rồi chìa ra một hộ chiếu bìa tím đậm kẹp vé máy bay hàng không Air France ở giữa. Trong một tích tắc, tôi đã ngỡ T sẽ ngẩng đầu lên, như phản xạ tự nhiên, để cầm lấy hộ chiếu và vé, để nói một từ merci hay thank you chẳng hạn, để nếu không nở một nụ cười xã giao thì cũng chớp chớp mắt tỏ ra cảm động. Nhưng cơ hội duy nhất để tôi nhìn thấy khuôn mặt T cũng biến mất vì nữ chiêu đãi viên, đúng tích tắc ấy, đã đặt hộ chiếu và vé lên mặt bàn tí hon mở sẵn ngay cạnh T, phía bên trái, và T đã hơi nghiêng vai định ngẩng đầu lên thì lại cúi ngay xuống, mái tóc đen vẫn lòa xòa che kín khuôn mặt, bàn tay nhỏ nhắn bình thản cầm lấy hộ chiếu và vé rồi lại bình thản đút chúng vào túi xách tay để ở lưng ghế đối diện. Tuy vậy, thật kì lạ, cũng vào tích tắc ấy, trong óc tôi vang lên một từ tôi chưa nghe thấy bao giờ, như thể một thiên thần bé nhỏ, cũng đang lơ lửng cùng độ cao của chiếc Air Bus 330, sau khi chứng kiến nỗi tuyệt vọng của tôi, đã thì thầm vào tai tôi cái từ ấy. Trong ba phút liền, trong sự im lặng khác thường của cả khoang, khi máy bay liên tục giảm độ cao, tôi lẩm bẩm nó đúng như cái cách tôi từng lẩm bẩm từ zimmer mười lăm năm trước, khi hắn bảo zimmer, quảng trường Châtelet, rồi cúp máy. Và ở phút cuối cùng, vào lúc mà chiếc Air Bus 330 hơi chồm lên rồi bất ngờ chạm sát đường băng trắng muốt như muối, trong tiếng động cơ chói tai, tôi chợt hiểu một điều hết sức đơn giản rằng cái từ vô nghĩa tôi vừa lẩm bẩm ấy là nơi T sẽ tới, sau mười mấy tiếng ngồi máy bay. Nơi ấy rất xa. Nơi ấy tôi không thể đến. Nơi ấy có thể chỉ cách Sài Gòn vài chục cây số, nhưng nơi ấy rất xa, nơi ấy tôi không thể đến. Mười hai giờ đêm hôm nay, sân bay Tân Sơn Nhất có bị lệnh bế quan tỏa cảng, hãng hàng không Dragon Air có tuyên bố phá sản, nước biển Nam có tràn lên đảo Chek Lap Kok, thì tôi vẫn phải có mặt ở khách sạn Cheung Sha Wan, như lời Wu dặn cách đây ba tháng, để không nhầm tiểu thuyết với cuộc đời, để mất tích chỉ thuộc về T.

Tiếng chân bước nhẹ lên thang gỗ, không khiến hơi nóng bớt run rẩy và Khánh Ly thôi hát Gentle rain. Cuộc hội ngộ hôm nay là quà tặng của số phận hay bóng ma của quá khứ, hay là cả hai, hay chẳng là cái gì cả, tôi không biết. Không ai có thể biết. Mười lăm năm trí nhớ phai mòn. Mười lăm năm trước tôi không biết mặt trời đỏ lửa là Sài Gòn tháng tư. Mười lăm năm trước tôi không biết cái gác xép lợp tôn này. Mười lăm năm trước tôi không biết our love will be sweet. Will be sad. Like the gentle rain. Like the gentle rain. Mười lăm năm trước tôi chỉ biết zimmer. Mười lăm năm trí nhớ phai tàn. Bỗng nhiên tôi tự hỏi phải chăng thiên thần bé nhỏ của Air Bus 330 ngày trước đã xuất hiện trở lại để hôm qua thì thầm vào tai hắn số điện thoại cá nhân của tôi, rồi bây giờ lại thì thầm vào tai tôi câu này: hắn sẽ là độc giả đầu tiên của T mất tích. Ôi, hắn thèm viết văn như thèm cái chết. Our love will be sweet. Will be sad. Like the gentle rain. Like the gentle rain…

 


Leave a comment

CHỈ CÒN 4 NGÀY LÀ HẾT THÁNG TƯ (chương 1. phần 2)

44 ngày trước khi xuống thuyền, Ân không còn nói về Tòng. Tòng học cùng khoa với Ân và nàng, đẹp trai và chơi ghi-ta.

Trước tháng Tư, Tòng để tóc dài, mặc quần loe, áo vạt bầu, chơi đàn ghi ta và hát nhạc phản chiến. Đại hội văn nghệ năm nào cũng thấy vừa đàn vừa hát anh nằm xuống sau 4 lần đã đến đây, đã vui chơi trong cuộc đời này… Nữ sinh của trường vừa nghe vừa đưa khăn tay thêu hoa hồng lên chấm nước mắt.

Sau tháng Tư, Tòng thôi quần loe và áo vạt bầu, tóc cắt cao, gọt cách gáy 4 phân, trải ngôi bên. Tòng nói: Chị em song sinh vô Đoàn nghen! Đoàn là gì? Đoàn là cánh tay đắc lực của Đảng. Đảng là gì? Đảng là đầy tớ của nhân dân.

4 tháng sau tháng Tư, Ân và nàng trở thành đoàn viên cùng 44 sinh viên của khoa và 444 sinh viên của toàn trường.

Hôm kết nạp có cờ đỏ sao vàng, 4 bình hoa ny lông đỏ, 4 khăn trải bàn đỏ, khẩu hiệu “Tư tưởng Mác Lê – Bách chiến bách thắng” 4 chữ trắng trên nền đỏ, 4 chữ đỏ trên nền trắng. Bí thư đoàn trường mặc áo 4 kẻ đỏ tới dự, bắt tay từng người, dừng lại 4 giây, tặng 4 huy hiệu đỏ chói rồi vỗ vai nói: Đoàn Đảng tin tưởng, cố gắng tham gia chiến dịch!
– Chiến dịch là gì? Bí thư đoàn trường im lặng, vẻ bí mật. Tòng im lặng, vẻ bí mật.
Hôm nay, ngoài áo 4 kẻ đỏ, Tòng còn mặc quần bộ đội, đi dép râu và đeo xà cột, phong thái cách mạng còn gấp 4 lần bí thư đoàn trường. Cuối buổi, Tòng đứng lên ôm ghi ta hát nếu là chim tôi sẽ là 4 bồ câu trắng, nếu là hoa tôi sẽ là 4 đóa hướng dương, nếu là mây tôi sẽ là 4 vầng mây ấm, nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương…
Tòng dứt lời, bí thư đoàn trường đứng lên vỗ vai 4 cái: từ giây phút này đồng chí Tòng chính thức là phó bí thư đoàn trường.
Bí thư đoàn trường dứt lời, Tòng giơ nắm tay đấm 4 đấm vào không khí : tôi xin hứa hoàn thành 4 nhiệm vụ được giao – quét sạch văn hóa văn nghệ đồi trụy, quét sạch tư tưởng ăn bám xã hội, quét sạch tầng lớp bóc lột, quét sạch thành phần phản động bán nước.
Đôi áo 4 kẻ đỏ ôm nhau thắm thiết trong 444 tiếng vỗ tay vang dội của hội trường.

 

Nằm cuộn tròn trong lòng hắn, cô hỏi. Cô hỏi có phải từ hôm ấy, từ hôm nghe tin nàng qua đời, cứ 4 giờ chiều là hắn cho đóng cửa phòng khám để quay trở lại quán Le 44 V. Giọng cô thì thào. Cô vẫn hay thì thào khi nói chuyện với hắn, về bất cứ vấn đề gì, ngay cả khi chỉ có hắn và cô với nhau, như thể đó là những bí mật mà họ có nhiệm vụ phải giữ. Hắn nằm im. Hắn buồn ngủ quá. Jet lag cộng với 44 phút làm tình không ngừng nghỉ khiến mắt hắn díp chặt. Tháng Tư Sài Gòn là tháng Tư Paris. Nhưng trưa Sài Gòn là sáng sớm Paris.

Rồi hắn ngồi dậy ra góc phòng bật ấm đun nước điện. Hắn đổ vào ly giấy 4 gói bột cà phê có sẵn trên bàn. Hắn cần tỉnh táo. Hắn không muốn mất điểm trong mắt cô. Hắn liếc nhìn vào gương buồng tắm. Thân hình hắn có vẻ không đến nỗi nào, bụng chưa 4 ngấn. Tuy thế, hắn biết những thứ này chỉ có vẻ thôi, chứ cơ thể hắn đã rệu rạo rồi. Hắn có thể dấu ai nhưng không thể dấu bản thân, hắn là bác sĩ cơ mà. Hắn rệu rạo rồi. Từ bên trong. Mỗi ngày 4 lần hắn cảm thấy một chỗ nào đó trên cơ thể hắn đang chết dần chết mòn. Lúc thì nửa đùi trái, lúc thì sống lưng, lúc thì thận phải, lúc thì phổi, lúc thì tim … Chết dần chết mòn từ bên trong. Vậy mà hắn mới 44 tuổi. Vậy mà hắn nốc bơ sữa từ nhỏ. Vậy mà hắn được bố hắn một bác sĩ dày kinh nghiệm để mắt theo dõi gấp 4 lần các bệnh nhân bình thường. Thậm chí còn hơn cả 4 lần: bố hắn theo dõi hắn từ ngày sinh ra ở bệnh viện tư của ông ở Sài Gòn cho đến khi chính thức bước chân vào khoa Y của đại học Orsay. Cơ thể hắn rệu rạo rồi. Vậy mà hắn mới 44 tuổi. Đôi lúc hắn nghĩ có thể do hắn làm tình quá sớm, hắn hoang phí sức khỏe cho thú vui giường chiếu từ 4 năm cuối phổ thông, với 4 đứa bạn gái trong trường cùng một lúc. Nhiều khi chỉ 4 phút ngay trên lớp học, giữa giờ ra chơi, sau bữa trưa ở căng-tin, trong nhà vệ sinh công cộng trên tầng 4. Nhiều khi 4 lần một ngày, trong 4 dịp nghỉ giữa năm. Còn 4 tháng mùa hè thôi thì chẳng kể xiết. Đúng là hắn không rượu, không cả thuốc lá, nhưng nhục dục là cái mà hắn ít nhiều khó vượt qua, ngay từ những năm trung học hắn đã nhận thấy. May mà mẹ hắn 44 năm nay không bao giờ phát hiện. Có lẽ bà suy từ chồng mình ra (quả là bản thân hắn cũng rất nghi ngờ khả năng tình dục của bố đẻ hắn). Bà đi họp phụ huynh đều đặn. Cứ 4 tháng một lần bà viết thư xin gặp riêng giáo viên 4 môn chính. Chăm thể thao, đôi khi ngủ gật trong lớp, học lực trung bình khá, chú ý các môn học cần nhiều trí nhớ. 4 nhận xét này của các giáo viên chủ nhiệm hầu như không thay đổi và bao giờ cũng khiến bà hoảng sợ hơn bất kỳ 4 điều gì. Bà sợ hắn khó lòng đi theo con đường mà bà đã sắp đặt. Nhưng bà đã nhầm. Hay bà đã gặp may thì đúng hơn. Hoặc bản thân bà cũng không ngờ bà giỏi sắp đặt đến mức này: tốt nghiệp trung học loại trung bình khá, hắn ghi tên vào Y khoa và xếp hạng thứ 4 từ dưới lên ở vòng thi loại cuối năm thứ nhất, vòng thi loại mang ý nghĩa quyết định để trở thành sinh viên chính thức của khoa Y. Trong thời gian luyện thi 4 tháng, hắn không có bạn gái.

Cô vuốt ve bụng dưới của hắn. Cô vuốt đi vuốt lại 4 lần và bao giờ cũng bằng 4 ngón tay. Có vẻ như cô chưa thỏa mãn với 44 phút làm tình không ngừng nghỉ vừa rồi. Có vẻ như cô chưa bao giờ thỏa mãn với hắn. Hắn tự nhủ hắn cần phải ăn thịt, thật nhiều thịt. – Anh sẽ ăn nhiều thịt để „ăn thịt“ em, hắn nghĩ thầm và bóp nhẹ tay cô 4 cái, vào đúng 4 vết chai quen thuộc. Hắn rất thích cụm từ „ăn thịt“ mà cô dạy hắn cách đây 4 tháng. Tiếng Pháp không có những từ hay ho như vậy, ít ra thì hắn cũng chưa tìm được cái gì tương đương trong ngôn ngữ mà hắn sử dụng từ khi lên 4. Hắn uống 4 ngụm hết chỗ cà phê. Hắn đặt tách lên mặt bàn rồi hắn quay người. Hắn vòng tay ôm cô, ngang thắt lưng. Hắn mân mê cái eo bé nhỏ của cô. Hắn vẫn nhớ cảm giác khi nhìn thấy cô ở quán Le 44 V. Lúc ấy, cô mặc chiếc váy trắng mỏng, lộ rõ toàn bộ vòng eo. Lúc ấy, hắn đang trong tình trạng chẳng vui cũng chẳng buồn. Mới năm ngoái đây, hắn quyết định làm lại cuộc đời. Lấy vợ, thôi ở thuê và mở phòng khám gần nhà. Khẩu hiệu này được thực hiện nhanh chóng trong vòng 4 tuần và hắn đã ngỡ là cuối cùng hắn cũng yên phận ở tuổi 44. Buổi sáng, sau bữa điểm tâm, trước giờ làm việc 4 phút, hắn đi bộ đến phòng khám, làm việc một mạch đến trưa, rồi đi bộ về nhà ăn bữa cơm bảo đảm đủ 4 chất dinh dưỡng do vợ hắn nấu. 44 phút sau, cơm nước xong xuôi, hắn lại đi bộ tới phòng khám, làm việc tiếp cho đến khi hết khách, cho đến khi trời tối hẳn thì về nhà (vẫn đi bộ, đương nhiên). Ở nhà, hắn tắm rửa, xông hơi, cơm tối với 44 cl rượu vang đỏ, cuối cùng ôm cái điều khiển vô tuyến leo lên giường trong tư thế nửa ngồi, nửa nằm, 4 chiếc gối chồng dưới lưng và ly trà 4 thảo dược tiêu cơm trên bàn ngủ. Tiêu cơm, đó là khẩu hiệu của các buổi tối. Các buổi tối giống nhau như đúc của hắn từ ngày lấy vợ. Do vợ hắn thích tin bất động sản và tin giật gân hơn là làm tình, nên hắn sẽ thiếp đi trong chương trình „Cẩm nang bán nhà“ của Stéphane Plaza hoặc kênh BFM TV, với hình ảnh về 4 tai nạn giao thông khủng khiếp nào đó, hay 4 vụ đánh bom trong tàu điện ngầm, 4 vụ ly dị tiền tỉ của 4 sao Hollywood, 4 cuộc cách mạng trấn động thế giới Ả Rập trong đó có thể có sự tham gia của 4 người quen của 4 bệnh nhân của hắn hay 4 người quen của 4 người quen của 4 bệnh nhân của hắn… Thời gian cứ thế trôi đi, hắn chẳng vui cũng chẳng buổn. Cho đến khi hắn tình cờ nhận được tin nàng qua đời.

Cô thôi vuốt ve bụng dưới của hắn. Hắn hẫng mất 4 giây. Phòng yên ắng, 4 cửa sổ đóng chặt 4 cánh, nghe rõ cả tiếng u u của máy điều hòa. 4 bức tường phủ kín 44 bộ váy. 44 bộ váy màu sắc sặc sỡ và cổ rộng, 44 trang phục được sử dụng trong phim truyền hình 44 tập mà cô đang tham gia. 4 tháng rồi cô đã ở đây. 44 người khác trong đoàn làm phim ở cùng khách sạn. Diễn viên, đạo diễn, phó đạo diễn và các kỹ thuật viên. Hắn lắc đầu 4 cái. Hắn cố xua đi ý nghĩ ngày ngày hắn còng lưng kê hơn 44 đơn thuốc nhức đầu và sổ mũi giữa đất trời âm u ngoại ô Paris, còn cô thì bay nhảy ở Sài Gòn rực nắng cùng 44 thành viên của đoàn làm phim (cô đóng vai hầu bàn trong một quán rượu thời trước tháng Tư). Và rất có thể chỗ hắn đang nằm bây giờ, không dưới 4 lần có thằng cha căng chú kiết nào đó đã ườn thân, 4 chi duỗi thẳng (hắn bỗng dưng để ý thấy lần làm tình lúc nãy, cô 4 lần trườn lên người hắn rồi 4 lần ra hiệu cho hắn không được nhúc nhích). Thằng cha căng chú kiết này có thể bụng đã chảy 4 ngấn (hắn ngờ là có sự trợ giúp của 444 lon bia Sài Gòn trong 4 tháng vừa qua), nhưng khuôn mặt phải công nhận là khá xinh trai, cũng thích cởi truồng đi lại và tranh luận triết học giống như 44% đàn ông nước Pháp. 44 khuôn mặt của các nam diễn viên hắn từng thấy trên vô tuyến truyền hình từ trước đến nay bỗng lần lượt hiện ra như diễu hành trong đầu hắn. 44 khuôn mặt mà hắn tưởng đã quên từ lâu, bây giờ nhớ lại thấy cũng khá xinh trai. Hắn nóng bừng mắt. Cánh mũi rung rung. Ngực trái nhoi nhói. Nhưng 4 giây sau hắn tự nhủ phải bình tĩnh. Hắn hít 4 hơi thật sâu rồi thở ra 4 hơi thật nhẹ. 4 lần như thế, hít thở nhịp nhàng, như hắn vẫn dặn các bệnh nhân tim mạch mỗi khi gặp sự cố có khả năng gây xúc động mạnh. Hắn hít thở nhịp nhàng. Hắn cố „lên tinh thần“. Hắn cố „hô khẩu hiệu“. Hắn cố „A Q“. Hắn cố „lạc quan cách mạng“ (4 cụm từ này cũng chính cô đã dạy cho hắn và hắn cũng rất khoái vì chưa tìm được 4 cụm từ tương đương trong tiếng Pháp). Hắn tự nói với bản thân, trong mối quan hệ giữa cô và hắn, chỉ cô mới có quyền đặt câu hỏi, bởi vì tuy rằng vợ hắn thích tin giật gân và tin bất động sản hơn làm tình thì hắn vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ, đêm đêm phải mặc quần đùi hoa nằm cạnh, và đúng vào ngày rụng trứng của vợ hắn, phải xuất ra 4 mi-li-lít tinh trùng. 4 giờ chiều, khi hắn và vợ hắn chui ra từ phòng đăng ký kết hôn của tòa thị chính thành phố, mẹ hắn đã đợi sẵn, khuôn mặt co quắp vì lo âu. Không để cho vợ chồng hắn kịp nghỉ 4 giây, uống 4 ngụm nước suối, ăn 4 miếng bánh sừng bò, bà nói luôn là 44 năm nay bà mong có cháu đích tôn. Rồi sau đó, 4 giờ chiều chủ nhật nào bà cũng đến cổng nhà hắn, nhấn 4 tiếng chuông, gọi vợ chồng hắn xuống và nhắc đi nhắc lại 4 lần mong muốn của 44 năm nay. Luôn luôn với khuôn mặt co quắp vì lo âu. Đến độ mà 4 giờ chiều chủ nhật cứ nghe chuông cổng réo 4 tiếng là hắn giả vờ bận để vợ hắn buộc phải xuống ngắm khuôn mặt co quắp vì lo âu của mẹ chồng. Có vẻ như cháu đích tôn là điều duy nhất nằm ngoài khả năng sắp đặt trước của bà (giá như bà có thể đẻ thay cho vợ hắn, hắn tin là bà cũng làm quách cho rồi, thậm chí 4 lần cho tới khi có cháu đích tôn thì thôi). Nghĩ đến đây, tinh thần hắn chưa kịp lên đã rớt thảm hại. Hắn thấy ớn lạnh nơi đốt thứ 4 của cột sống. Không phải hắn khó khăn gì 4 mi li lít tinh trùng, nhưng của đáng tội mỗi lần làm tình với vợ hắn, hắn đều ớn lạnh nơi đốt thứ 4 của cột sống. Hắn không khỏi có cảm giác là đang làm tình với đàn ông (giá như hắn gay!), chính xác hơn là hắn có cảm giác đang bị ép làm tình với ông thân sinh ra vợ hắn: vợ hắn thừa hưởng từ cha đẻ hầu như toàn bộ hình thể, nhất là khuôn mặt với quai hàm vuông gấp 4 người thường; đã hơn 4 lần hắn nài nỉ vợ hắn nuôi tóc dài nhưng vợ hắn một mực từ chối, hắn đành bó tay để âm thầm chịu đựng, sức chịu đựng của người Việt hay người gốc Việt nói chung là gấp 44 lần các dân tộc khác. Tất cả các lần làm tình với vợ hắn do vậy đều vật hắn chìm nghỉm dưới 4 tầng địa ngục, giữa những khuôn mặt kỳ quái, lúc thì vuông gấp 4 người thường của bố vợ hắn, lúc thì co quắp vì lo âu 44 năm trời của mẹ đẻ hắn, cái đầu thì chặn đứng khoái cảm, cái sau thì nặng trĩu sức ép.

 

đọc tiếp Chương 1. Phần 3